Wednesday, December 28, 2011

Lời Rao Giảng Của THƠ (2)















 
Thơ Trích (1)


THỨC GIẤC
           
Lửa đã cháy rừng thiêng kia đã dậy
con phố đông người đã bỏ ra đi
tôi nửa đời hoài bão tới đam mê
khi thức giấc tiếng hờn căm réo gọi
tóc đã úa theo từng năm lửa khói
lòng đã mềm trước những nỗi tan hoang
tôi thơ ngây viễn vọng một thiên đàng
chất trong óc trong tim đầy lý tưởng
tôi hồn nhiên với trăm nghìn ước vọng
lòng dễ tin như đứa trẻ lên mười
nhìn tương lai toàn hoa gấm tuyệt vời
yêu dào dạt như thuở vừa chớm lớn
trăm lời nói chứa trăm niềm hy vọng
tôi đến với người bằng cả tin yêu
niềm sắt son nguyên vẹn thủa ban đầu

Và em nữa - tiếng đàn xưa thánh thót
tôi giữ trong tim ngàn lời dịu ngọt
mà nhân tình mặn nhạt tiếng đầu môi
tôi giữ trong tôi nhân dáng con người
trong mỗi khổ đau trong từng hạnh phúc
tôi già nua thêm nửa đời chân thực
rồi ngỡ ngàng sám hối với hư vô
thuở đôi mươi nếu gặp lại tình cờ
vẫn tha thiết như một thời lãng mạn

khi ngả nón quay lưng rời súng đạn
mắt trót nhìn bao cảnh huống oan thâm
mất nửa đời không gọi nổi từ tâm
tôi thức giấc đứng trông chờ ân sủng
sông núi chập chùng biển xanh vô tận
lời chim kêu lạc lõng giữa non ngàn
đóa hồng hoa vùi ngủ dưới mù sương
hương sắc cũ cũng phai tàn tự đó.
=

ĐỔI ĐỜI

Dừng lại nơi đây giây phút này
tiếng khóc của chim
lời than của gió
em biết không em
ngã đời chia biệt
một phía sau lưng
một thuở son vàng
cùng với máu xương hoang tàn tội lỗi

Ta chẳng còn chi
ngọn sóng cuồng lưu xóa vùi đạo lý
nhân loại ai còn tiếng gọi từ tâm
ngôn ngữ văn chương lời rao quỷ dữ
đâu đó hồn thơ máu chảy tim người
ôi, mấy nghìn năm sử Tần lại viết
phố thị đã bừng ngọn lửa phần thư

Em biết không em
ta chẳng còn chi
hôm nay con người thọ hình lột xác
đồng bào nhìn nhau qua lớp kính mù
những bộ xương da thay hình trâu ngựa
không còn nhìn thấy nhau
thế gian thêm hận thù đố kỵ
thêm bất công khốn khó cơ cầu

Hôm nay anh không còn em
mọi người không còn nhau
đàn thú dữ tung hoành nanh vuốt
người lương thiện thành kẻ tội đồ
lũ gian ác nói điều thánh thiện
           
Hôm nay mặt trời màu xám
mặt đất màu đen
cây cỏ chim muông gục đầu chịu tội
hàng triệu linh hồn nhập tượng đá không tên

Thủ Đức 10-1976
=


TIẾNG HỜN CHIẾN MÃ

Kim cổ đông tây hề! chiến mã
ào ào ngọn vó hề! sa trường
bao phen đất dội trời rung chuyển
chiến mã dọc ngang hề! tứ phương

Chiến mã lẫy lừng bao chiến trận
đã đi là quyết một lần đi
giang sơn. tổ quốc. lòng trung nghĩa
một phút. thôi đành! lẽ thịnh suy
                       
Dây cương kéo ngược đời. thô bạo
phủ khắp tang thương xứ sở này
nợ nước non mang ngày chiến trận
trả bằng nghìn kiếp nỗi chua cay

Sá chi sinh mạng thời binh lửa
thì tiếc gì thân buổi bại hàng
lê gót xích xiềng thời đại cổ
ngậm ngùi chiến mã bước hiên ngang

Bước đi trên nỗi buồn hoang phế
trên những cỏ cây cúi gục nhìn
trên những vệ đường người lạnh cóng
những hàng đinh nhọn cắm xuyên tim

Bao giờ ngọn núi kia mòn rã
muông thú đi tìm chỗ ẩn thân
có những cánh đồng xanh. Cỏ mới
đất trời đem trả lại mùa xuân
           
Bao giờ thiên hạ gặp nhau lại
mở hội mà vui đến nghẹn ngào
ai hát bài ca buồn chiến mã
tiếng hờn còn vọng đến nghìn sau.

Thanh Hóa 1979
=


TÔI ĐI GIỮA ĐOÀN TÙ VÁC ĐÁ

Ở đây trời đất vừa thu lại
còn một vòm đen chứa thế gian
và cả loài người như đổi lốt
bày trò dã thú lối chơi hoang

Tôi tưởng như mình vừa sống lại
tự nghìn kiếp trước nối oan khiên
oằn lưng gánh lấy hồn sông núi
hiu hắt trong lòng đóm lửa thiêng

Tôi đi giữa chốn tàn quân ấy
đội ngũ hùng binh đã một thời
nghe tiếng - quân thù kia khiếp sợ
một giờ cuồng nộ súng gươm rơi

Tôi đi núi đổ đè thân phận
đá cứa vai trần máu rướm tim
cả một đoàn người xoay trái núi
dời non chuyển đá dựng xà lim.

Canh bạc đã về tay bạo chúa
tình người đạo nghĩa đã nhường ngôi
tôi đi dưới bóng thời nô lệ
ngọn núi đè lên cả kiếp người
           
Đủ ngón đòn thù ân huệ lắm
quất lên da thịt đã chai sần
lưỡi dao sỉ nhục xuyên tim óc
vết chém khoan hồng tươm xác thân

Sắt thép nào không tan với lửa
thịt da mục rữa lẽ đương nhiên
nhưng tâm và chí đoàn ngươi ấy
lửa đốt lò nung không thể mềm

Ở đây chất ngất hồn non nước
vang bóng vua Lê buổi dựng cờ
vọng tiếng Bình Ngô hồn Nguyễn Trãi
đoàn người bước tới hẹn thời cơ.

Lam sơn, Thanh Hóa 1979
=


NHƯ GIẤC LUÂN HỒI


Ta cởi áo phong trần như hóa kiếp
khắp hình hài vết tích thuở tiền thân
tóc xanh đã từng thời thưa thớt rụng
em thương ta chia sẻ bớt căn phần

Ta đã lỡ “trót sinh nhầm thế kỷ” (*)
một trăm năm luân lạc xứ dân hời
ngôi cổ tự  loài ma vương chiếm hữu
sinh mạng con người một thứ trò chơi

Ta trôi nổi mấy quãng đời oan nghiệt
bóng thiên duyên soi bến giác Tiền Đường
thơ níu vớt choàng tay em vươn dậy
ngọn cam lồ hóa giải cuộc tai ương

Ta ngồi tụng nhân tình như mớ ngủ
chập chờn ngày quỵ gối giữa tà gian
tiếng ú ớ vọng trùng trùng ngục thất
lau sậy kia! ngươi mộng mị hoang đàng.

10-97
(*) thơ Vũ Hoàng Chương
                                                 


VỀ ĐÂY

Về đây đời bỗng ngu ngơ lạ
quanh quất như chừng lạc lối xưa
phố mất tên. đường. nhà đổi chủ
người nhìn nhau thoáng mắt thờ ơ

Về đây. Về lại từ luân lạc
chưa trả dứt xong nợ quỷ thần
cảnh cũ người xưa chừ tản mác
thấy người mà buốt cả tâm thân

Về đây còn lại gì đây nữa
em gái ta ơi mấy bến sông
kỷ niệm ắp đầy căn gác vắng
ai ngờ phận gái cũng lưu vong.

Tan  tác  hết rồi bè bạn cũ
kẻ nơi góc biển kẻ chân trời
bao nhiêu hò hẹn thời trai trẻ
ngó lại như dòng nước chảy xuôi

Về đây bó gối nhìn thiên hạ
lây lất bên lề chuyện áo cơm
xã hội luông tuồng trong bệnh hoạn
con người con thú có gì hơn

Về đây mở lại từng trang sách
nhòe nhoẹt từng trang chữ thánh hiền
lễ nghĩa thay bằng câu  dối trá
bịp lừa ngu dốt đứng ưu tiên

Về đây nương náu bên cha mẹ
quên những gian truân những dãi dầu
cơ nghiệp mẹ buồn chi : Được. Mất
lo gì con mẹ sẽ về đâu.

Về đây . Con đã về bên mẹ
về lại sau từ những chuyến đi
còn những chuyến đi nào đợi sẵn
suốt đời cứ soãi cánh chim di

Thì thôi, lòng hãy quên đi vậy
đi.  ở . về . đi . Cũng số phần
xứ sở như ngôi nhà của mẹ
vui buồn vinh nhục chốn dung thân

Mai kia nếu phải ra đi nữa
nếu phải đầu thai một cõi nào
xin mãi làm người con nước Việt
dẫu lòng còn đó nỗi buồn đau.

Sài Gòn 1985
=


NHỮNG ĐIỀU BẤT HẠNH

Khi tôi choàng thức dậy
giữa cõi đời bất an
mang tiền thân Âu Lạc
đọc câu kinh Việt Nam

Nhớ lời ru của mẹ
thương vần điệu ca dao
hòa bình, cơn ác mộng
ngày tàn cuộc binh đao

Khi cùng một dòng sông
nước hai luồng xoáy ngược
từ đầu cuộc phân tranh
đâu căn phần tội phước?

Khi loài người tráo trở
trước nhân tâm bạo hành
tôi linh hồn dã điểu
thân phận thời mong manh

Khi bãi mìn hố đạn
chắn lối tìm yêu thương
ruộng đồng hoang xơ xác
tôi gọi thầm quê hương

Khi dòng sông nối lại
người anh em tìm nhau
trao hận thù ân oán
đời ngộp tiếng thương đau

Khi núi lở sông bồi
tôi đâu là gỗ đá
tim thắt quặn từng cơn
trước mỗi đòn hành hạ

Khi trăm điều muốn nói
tắc nghẹn không nên lời
giữa hôn mê ngôn ngữ
tôi làm thơ tạ đời

Hồn tôi thành mây khói
lòng tôi tựa sóng cồn
bơ vơ bầy dã điểu
quê hương trời hoàng hôn.
=


PHÚT TĨNH LẶNG
KHI RA TÙ


Ngỡ ngàng
từ một tai ương
buông tay giữa cuộc
luân thường đổi thay

Rượu nào
ngang chén lệ cay
xin đây tĩnh lặng
một ngày trận vong

Xin em
lời tạ tấc lòng
biết làm sao
trọn nghĩa vòng tử sinh

Xin đây
non nước nghĩa tình
một người con mẹ
những nghìn câu thơ.

= =



Sunday, December 25, 2011

Lời Rao Giảng Của THƠ (1) - Trần Tuấn Kiệt


ĐỌC THƠ SONG NHỊ

TRẦN TUẤN KIỆT. SA GIANG. – VIỆT THẦN (*)

= Sự Điêu Linh Nào Đã Tạo Nên  TIẾNG HÓT LOÀI CHIM DI
=  Chất Trữ Tình Say Đắm Trong VỀ LỐI ĐI XƯA
= Bản Trường Ca Lịch Sử Dân Tộc Nối Dài Trong 
                                                          TIẾNG HỜN CHIẾN MÃ


VỀ LỐI ĐI XƯA

Tôi đọc trong thi phẩm Về Lối Đi Xưa của Song Nhị có hai câu:
Mai kia tàn cuộc nhục vinh.
Con về bên mẹ tạ tình núi sông.
Rồi lại đọc tiếp:
Cũng đành thưa mẹ, vong thân.
Mai con nhập tịch làm dân xứ người!


Thưa anh,
Thế sự phế hưng coi vẫn rộn!
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Đại thi gia phái nữ là Bà Huyện Thanh Quan đã nói lâu rồi. Và cũng trong tinh thần người đàn bà lớn lao đó đã lấy làm thường! Có chi mà rộn! Với những kẻ lên voi xuống chó những lớp lang lịch sử ấy!
Trong trường danh lợi vinh liền nhục
Vào cuộc trần ai khóc lộn cười!
(Có phải thơ của Đặng Trần Thường chăng! Lâu quá nên tôi đã quên tác giả của hai câu này).
Tôi lại nhớ tới “Cũng đành thưa mẹ, vong thân” trong bài viết cho Bùi Ngọc Tuấn trên báo Khởi Hành của Viên Linh. Tôi đã viết “Có những kẻ vong thân ở tại đất nước này” những kẻ đó hiện đang được Đười ươi khỉ vượn tôn lên ngôi báu phong tước vị Anh Hùng, có chứng minh nhân dân là gốc Kinh, là dân tộc Việt Nam chính hiệu và hơn nữa là người Vô Sản Vô Thần chính cống! Thật là khôi hài cho lớp lang lịch sử hiện đại Việt Nam.
Đối với chúng ta, anh có làm thơ hay, có tâm tình cao thượng hơn bọn họ hay không là điều đáng nói hơn. Vì dường như tôi thấy không lầm, thơ Song Nhị là một giòng nước sa từ cội nguồn kia mà! Dù anh có nhập tịch Nga, Mỹ, Anh, Úc... hay Phi châu hay Iran, Iraq hay Hy Lạp anh vẫn không từ chối được anh là người Việt đâu.
Có lần tôi ở tù chung với một đám du đãng, tù chung thân ở trại Gia Trung, trong buổi cơm, có một anh bạn tù đột nhiên hét lớn: Mẹ nó! Vái Trời cho tôi chết đi, khi sống lại đừng cho tôi đầu thai làm người Việt Nam. Tôi chán làm người Việt Nam quá rồi! Anh này cũng giống như dân Vô sản bỏ gốc Việt lấy tổ quốc Liên Xô vậy. Cũng có lần Bùi Giáng đưa tôi coi bức thư của Renéchard gởi cho Bùi Giáng khi ông hỏi về tương lai đất nước Việt Nam. Renéchard trả lời. “Anh đừng lo, Việt Nam sau này là một thánh địa!”
Tôi thêm một ý nữa với Bùi Giáng: Thánh địa là Thiên Đường Cộng Sản đó, ông có thích không!
Từ đó Bùi Giáng ngao du cho đến ngày Tận Thế 75 và sau 75 cho đến khi về với cội nguồn tổ tiên.... Bây giờ thì chúng ta đang ở vào buổi bình mình sáng thế của nhân loại. Song Nhị ơi! Tặng bạn mấy câu thơ mình viết trong tập Nai từ lâu:
Trăng ơi ngủ với hồn ta
Đầu hôm nghe vọng tiếng gà Bình minh
Lá kia sương bỗng run cành
Khói đồi chim lạ kêu thành xuân thu
Ngàn hoa mai trắng lũng sâu
Hương đèo bóng núi tìm đâu tiếng rừng
Cách tràng giang đến ngàn trùng
Mà ta vẫn nhớ thương từng bước Em
(TTK)
Nay tôi đi tìm những lúc “Em còn hái trái bên cây, vết son mùa để dấu hài đầu tiên” đó trong thơ Song Nhị, với Về Lối Đi Xưa của anh.
Và xin mời các thi hữu, thi gia, các bạn yêu thơ cùng đọc với tôi qua các bài sau đây:
1. Chợt nghĩ về Xuân (trang 19)
2. Về lối đi xưa (trang 20, 21, 22)
3. Oan khiên
4. Nhớ lắm Saigon (trang 53)
5. Bốn (trang 69)
6. Đóm lửa cuối năm (trang 74, 75)
7. Khúc ca dao tình (trang 83)
8. Ngày đón em về (trang 85, 86)
9. Sơ ý (trang 131)
Toàn tập thơ Về Lối Đi Xưa của Song Nhị là một thi phẩm Trữ Tình, là một bản tình ca đẹp nồng nàn muôn thuở của thi nhân.
Nói đến Tình Ca, thơ Song Nhị đã là một bản Tình Ca rồi, nói như thế tôi nhớ tới một câu chuyện ở tại La Pagode trước 75 - Anh Phạm Duy ngồi gần tôi với các thi văn hữu khác. Chợt Phạm Duy nói với tôi “Thơ ai tôi cũng phổ nhạc được. Chỉ có thơ cậu là tôi không phổ nhạc được!” - Tôi nhìn Phạm Duy cười không trả lời. Riêng tôi không thích đưa thơ của mình cho người khác phổ nhạc. Thơ là thơ. Nhạc là nhạc. Thơ đã là tình ca rồi thì cần nhạc làm gì cho lạc mất tính chất, và hơn nữa tinh thể của thơ mà ít khi âm nhạc đạt tới được. Chỉ có thế thôi! Cũng vì thế tôi chỉ đi học nhạc có vài năm rồi bỏ trường Quốc Gia Âm Nhạc để quay về với Thơ. Tôi nói như thế, ý cũng mời bằng hữu yêu thơ đọc bản Tình Ca Về Lối Đi Xưa của Song Nhị, vừa ngâm vừa hát cho thật đúng tinh thần Trữ Tình say đắm của nhà thơ.
Nói cho đúng thì thơ Song nhị có đủ mọi tính chất, mọi khuynh hướng. Anh làm thơ và xuất bản rất nhiều từ lâu nay. Muốn nhận định về một nhà thơ nào, chúng ta phải đọc thật kỹ tất cả các tác phẩm của họ. Có nhiều vần thơ hay, sâu kín của thi sĩ, chúng ta không đọc hết mà cứ nhận xét nhận định.... thì là một sai lầm lớn. Tôi không có thời gian, không còn bao nhiêu tâm huyết, sức lực để bàn về thơ cho nên chỉ nói về cảm tưởng của mình ít nhiều về Song Nhị. Rồi đây các trang thi sử, các sách viết về thi nhân, thi ca người ta sẽ nói đến Song Nhị đầy đủ hơn. Nay xin bàn ngoài lề một chút....
Từ việc đọc thơ Song Nhị, tôi muốn nhắn với lớp trẻ, sau chúng ta, khi làm thơ ngoài thi hứng và tài năng của mình, cũng nên đặc biệt trải qua mọi khuynh hướng như Lãng Mạn, Tượng Trưng, Hiện Thực, Siêu Thực... Sử Thi... qua các vần điệu của luật xưa, của lục bát, song thất lục bát của Việt Nam, và thể hiện căn bản nghệ thuật thật vững vàng rồi hãy bắt đầu tung hoành, tự do sáng tác theo chiều cảm hứng và tư tưởng của mình. Có nhiều bạn trẻ ở Việt Nam ngày nay có tinh thần, vượt qua mọi ràng buộc về tư duy tuyên truyền của duy vật Xã Hội Chủ Nghĩa. Họ viết thật mạnh, tuy nhiên chưa đạt tới một nghệ thuật tinh tế và sáng tạo lớn được vì không học, vì bất cần, nên vô tình để rơi vào khuôn sáo tầm thường chỉ tạo ra được cái loạn vô ý thức của thi ngôn thi ngữ, chứ không tạo ra nổi những vần thơ đích thực có tầm vóc lớn, nhất là cứ ở trong các nhóm, các hội thơ của nhà nước không biết mở tầm học hỏi ra khỏi phạm vi của vòng vây nghiệt ngã của bức màn Cộng Sản đã diệt hết mọi tự- do và tiếng thơ chân tình của chính mình. Thay vì ra khỏi các trường trại sáng tác thi ca để đạt tới tinh thể của nghệ thuật đương đại, nhất là tự mãn với một tí hư danh của mình. Thơ muốn đạt tới đỉnh phải tử công phu, cũng như các môn nghệ thuật khác. Sự khinh bạc coi thường người trước chỉ là một hành động ấu trĩ mà thôi.

Trần Tuấn Kiệt/ Sài Gòn 

TIẾNG HÓT LOÀI CHIM DI

Từ thời thượng cổ, người Việt thờ chim Thần - Thần điểu. Trong loại chim Thần đó có chim Trĩ Trắng là sứ giả văn hóa Việt. Việt Thường Thị đem cống (trao đổi văn hóa) chim Trĩ Trắng và Rùa Thần. Trên mai rùa có chữ Khoa đẩu của Việt tộc in rõ dấu tích, thần thoại về sự hình thành vũ trụ vạn vật của Thần đạo chính thống Việt Nam. Ngoài ra Việt tộc thờ chim lạc - Thần điểu Việt. Sau này Đinh Tiên Hoàng lên ngôi lấy Quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Cồ là đôi mắt lửa sáng rực của loài linh điểu. Truyền thuyết linh thiêng đó là tâm linh muôn đời của người Việt tự ngàn xưa. Không phải vô tình mà người Việt ngày nay hay nhắc tới loài Việt điểu. Thời Bách Việt, nước ta giòng Việt tộc đã cư trú gần phân nửa nước Tàu ngày nay. Sau thời chiến quốc, giòng Bách Việt bị Hán đồng hóa, còn lại giòng Lạc Việt anh hùng nhất loài Chim Việt kiêu hùng đó trải qua muôn vàn gian khổ, máu xương giữ nước cho mãi đến ngày nay. Sự tích Chim Việt đậu cành Nam cũng ghi dấu ấn đau buồn của những người phải xa quê hương cội nguồn, tổ quốc. Con Chim Việt khi bị đưa đi về đất Bắc đã chọn cành hướng Nam mà đậu mà hót... Từ trong tiềm thức, thần thức Việt đã có bóng dáng chim linh vì thế mà kẻ tha hương bốn bể không phải vì vô tình mà than mà thốt lên lời ai oán. Tinh thần đó, tâm linh đó lại bắt đầu vọng lên âm hưởng của loài chim Việt cành Nam xưa: Khắc khoải sầu đưa giọng lẳng lơ. Ấy hồn Thục đế thác bao giờ. Năm canh máu chảy đêm hè vắng. Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ (Nguyễn Khuyến).
Đến nay thì giòng lịch sử đen tối của loại ma quỷ ý thức hệ vong thân khiến người Việt lại một lần lưu vong, hằng hà sa số, hằng triệu người Việt lại bỏ quê hương trên những nẻo đường Thủy Mộ Quan (Viên Linh) để đi tìm tự do, lẽ sống nhân đạo hơn, ở đất nước người - Tiếng Hót loài Chim Di - chim Việt của Song Nhị lại một lần lên tiếng u hờn khắc khoải làm động lòng người, chấn động tâm can, tâm linh và nghĩa khí hào kiệt của dân tộc Việt ở bốn phương trời, gợi cho lòng kẻ sĩ phương Nam dấy lên những hoài vọng, hoài bão lớn lao, một ý thức về trách nhiệm của người trí thức về lịch sử của thời đại mình phải làm gì để giành lại quê hương, giữ lại tinh thần và đạo lý Việt, để thể hiện cái tự-do tuyệt đối của đời mình. Và, nói như Khổng Tử “uy vũ bất năng khuất” - nói như Nguyễn đức Quỳnh “tư tưởng bất năng hoặc” trước loại “Cùm Đỏ” của bạo lực phi nhân tham tàn này.
Tiếng Hót của loài Chim Di đã lên tiếng nhiều lắm, rất hàm xúc nhiều điều mà ở tại quê hương này khó lòng người dân nói được.
Viết đến đây tôi bồi hồi nhớ đến bao người bạn đã ra đi rời xa tổ quốc. Tôi nhớ đến bao lần nghe những con Chim Việt lên tiếng hót thần kỳ ở khắp mọi nẻo đường tha hương biệt xứ. Và ao ước tất cả những người xa xứ trở về trong bản Anh hùng ca độc lập tự do muôn thuở tại quê hương mình.
Những con Thần điểu Việt nay ở phương trời nào?
Trên núi cao có con Thần điểu
Ba năm thu cánh không tiếng kêu
Ngày hận mây mờ che bóng lửa
Đêm hờn thơ lặn rải sườn rêu
A ha! Thần điểu còn nương náu
Chờ ngày thét nở núi khe sâu....
Con Thần điểu bay về đâu từ ngày núi non thay trời đổi chủ, trở thành hình bóng chim Việt cành Nam ở tận phương trời hải ngoại nào. Tôi có cảm tưởng đầu tiên như vậy khi đọc “Tiếng Hót Loài Chim Di” của Song Nhị, có lẽ tập thơ này là tập thơ “gay cấn” nhất của Song Nhị đây - nói như giọng của thi sĩ họ Bùi. Đối với họ Bùi, chuyện gì ghê gớm lắm đều dùng chữ “gay cấn” này mà diễn tả ra cho nó có vẻ... chịu chơi một chút.
Sự điêu linh nào đã tạo cho Song Nhị viết tập thơ gay cấn này đến thế. Điêu linh đó thuộc về bi kịch đồi tranh “Hãi hùng bi kịch đồi tranh!” (B.G) của dân tộc Việt. Ai cũng biết là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa Quốc Gia Tự Do và Độc tài đảng trị Cộng Sản. Và điêu linh nhất phe Tự Do thất bại để đất nước rơi vào tay giặc Cộng khiến ta nhớ đến từ Nguyễn Thái Học, Nguyễn Tường Tam - Ông, trước khi tự vẫn, còn kịp ghi: “Anh em Ngô đình Diệm phải chịu trách nhiệm để nước mất vào tay Cộng Sản” - cho mãi đến ngày nay một bức màn vô hình phủ khắp non sông bằng sự dối trá tham tàn, tội ác và tham nhũng, tất cả đều được tẩy não bằng nhục hình bạo lực cho đến tận vô thức, tiềm thức tim óc của dân tộc. Mà tiếc thay một số người Việt hải ngoại quá vô tình, vô ý không nhìn thấy rõ được. Đình miếu thần linh đất Việt, chùa chiền, nhà thờ đều sống trong vòng vây ý thức hệ Xã Hội Chủ Nghĩa - đường lối tư tưởng văn hóa, nghệ thuật đều thoát thai từ trường trại Xã Hội Chủ Nghĩa. Và tất cả đều là một lũ văn nô cả đến Hoàng Cầm ngày nay cũng không hơn gì Phạm Duy, hay Trịnh Công Sơn trong chiến lược văn hóa Đảng cả.
Ngày đêm bọn giáo sư Hoàng như Mai, Trần Bạch Đằng, Trần trọng Đăng Đàn và lũ văn nô Bắc Việt ra sức đánh phá văn nghệ miền Nam tự do một cách điên cuồng u mê ám chướng... đến khôi hài! Tất cả chỉ vun bồi cho cái gốc đại thụ tham nhũng ngu dân để bảo vệ cái tổ quốc non sông mà bọn Mông Cổ này mới cướp được để phụng thờ Mác-Lê.
Nước mất nhà tan! Xưa nay cũng thế thôi! May ra thân phận và đời người còn được ra khỏi cái màn ma quỷ của Xã Hội Chủ Nghĩa - để sống lưu vong trong sự tự do quí báu nhất của cá nhân mình, dù thế nào đi nữa còn hơn vạn lần anh em mình ở lại, để hằng ngày chạm mặt với kẻ thù luôn khủng bố quanh mình loài chim Việt đó cũng có ngày quay lại. Chờ ngày thét vỡ núi khe sâu. Và anh em ta không có quyền nỉ non than vãn nữa. Tôi còn nhớ mấy vần thơ của ông Lam Giang Nguyễn trang Trứ dịch:
Đại Vương cờ phất ải xa
Ngậm ngùi thấy bạn đã là quỷ oan
Bừng sôi máu hận muốn tràn
Vần thơ mọn có muôn ngàn kiếm đao!
Hồ Hữu Tường hay Vũ Khắc Nam hay nhiều vị văn hóa lão thành từng nói. Thời đại chúng ta là thời Tân Xuân Thu - thời Chiến Quốc Mới - những con chiến mã vẫn còn đất tung hoành. Sức kiệt hơi tàn thì chiến đấu bằng văn, có tiền của thì chiến đấu bằng kinh tế tự do, bằng tất cả mọi thứ gì ta có được, thời thế Xuân Thu mà - Gặp thời thế thế thời phải thế! Trong trần ai ai dễ kém ai!
Đừng quên Chim Việt đậu cành Nam, bao giờ chân lý và nhân nghĩa cũng thắng bạo ngược tham tàn, tinh thần dân tộc Đại Việt còn đó. Bản anh hùng ca bất tử vẫn còn đúng, thì người tự do Quốc gia làm văn hóa đã thắng Cộng từ lâu rồi. Bọn Cộng Sản làm gì có văn hóa mà nói đến chen vai thích cánh với chúng ta được phải không anh em!
Bây giờ thì mời quí bạn yêu thơ, cùng tôi đọc những vần thơ, đúng nghĩa chân tình của nhà thơ Song Nhị gởi đến bằng hữu bốn phương và “Quê hương yêu dấu” của chúng ta - chúng ta không khóc lên vì quê hương nữa, như cô gái trong thơ Hoàng Trúc Ly độ nào:
Những người xưa đi rồi không trở lại
Một mình tôi lại gặp một mình em
Chiều lửng lơ nghe nắng rụng bên thềm
Em không khóc - mắt buồn ươn ướt đỏ!
    (Hoàng Trúc Ly)
Ta hãy bắt đầu từ “Tiếng Hót loài Chim Di” để rồi chuyển âm nó thành những âm điệu cuồng phong thác lũ của mối Hờn Chiến Mã trên bãi sa trường vẫn còn đầy đủ khí độ anh hùng của những Chàng Trai Đất Việt (Nguyễn Vỹ). “Tiếng Hót của loài Chim Di” còn là tiếng hót của thơ, của kỷ niệm êm đềm, của cuộc tình nồng ấm của men tình đầy hoa trái ngọt có thủy có chung!
Thời thế này mà con người còn giữ được những thủy chung và kỷ niệm thì thật là hạnh phúc, đó là nhà thơ Song Nhị đấy bạn ạ! Chàng là một Gérar de Nerual của chúng ta đấy.
(Trích bài Tiếng Hót Loài Chim Di trang 13, 14, 15, 16)

Việt Thần


TIẾNG HỜN CHIẾN MÃ

Một vài lần Bùi Giáng viết “Có người con gái chửa hoang. Để chàng thi sĩ lang thang suốt đời.”
Cũng có một lần tôi gởi Lê Nguyên Đại một bài thơ ngắn tặng anh có bốn câu:
Thơ văn tải đạo đến bao giờ
Tải đạo mà ra thực tải thơ
Thơ gởi mười phương trong nếp gấp
Cõi đời hư thực, huyễn hay mơ!
Cái cõi đời hư hư thực thực đó thì cần gì thi sĩ phải “dấn thân” vào đấu tranh cách mạng, cần gì phải lo cho vận mệnh đất nước, dân chủ pháp trị hay độc tài đảng trị? Làm gì có tổ quốc, nước non, cội nguồn chủng tộc, hư thực, huyễn hay mơ đó làm gì có tinh thần nhân bản tốt tươi hoa lá cành như anh bạn tôi cứ khư khư bênh vực và thích nó khi tôi đề tựa thơ cho anh tơ lơ mơ thì anh sửa lại là tinh thần nhân bản trong thơ anh! Cái nhân bản kỳ cục đó đối với thi nhân thì lạ lẫm làm sao, đảo điên làm sao ấy! Nhất là cái nhân bản ấy nó theo súng đạn bom và các chất độc rải khắp thế gian này.
Vì vậy mà tôi thích đi tìm các vần thơ của bè bạn những câu thơ nào ra khỏi cái nhân bản thuyết, cả cái siêu hình học Đông Tây để phục vụ cho nó, các câu thơ nào vô tư... (tức là không có tư tưởng) nhất là các câu thơ còn nguyên vẹn cái bản chất tự-nhiên nhất là tính-dục như các câu thơ của Ôn Như Hầu “cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa” hay hơn nữa - Các câu thơ của Hồ Xuân Hương nồng đặc mùi luyến ái chân thực của cái tính tự nhiên loài người. Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng. Yếm đào để lộ dưới nương long... Tuyệt vời hơn gấp nghìn lần Hữu Thể và Thời gian của Martin Heidegger hay Tư Bản luận của K.Mars. Thật buồn cười, có lần tôi đọc tác phẩm (!) của một ông Tiến sĩ xã hội học Liên Xô tiên đoán rằng “Tư Bản đang dãy chết” - chẳng bao lâu thì Liên Xô sụp đổ! Sách vở có khôi hài không?
Thôi đi thi nhân! Cõi bờ của thực tại trần gian, tổ quốc này không phải của ta đâu, bọn bị đời coi là điên, là ngông cuồng ngạo mạn, khinh thế ngạo vật, và đủ thứ xà bần của tâm lý con người. Chúng ta cần gì phải có một Tinh Cầu Mơ Ước như Trần Dạ Từ! Bởi vì có một tinh cầu nào thực sự cho cái mộng tưởng viễn lưu đó...
Chúng ta hãy vùi đầu vào với cái ta thích đó là thân xác đam mê, quên ngày quên tháng của nhục thể đàn bà! Như một Nguyễn đức Sơn với Đêm Nguyệt Động, như các bài Thần Thi của Trần Nhựt Tân, và đừng để cho cơn buồn lạnh chết người chi phối tâm linh ta như một Viên Linh với Thủy Mộ Quan, một nỗi tủi hận như Phạm Tường với Gõ Thức Chân Mây...
Ồ! Có lẽ tôi lạc dòng khi muốn nói đến thơ của một người bạn, đó là thơ của anh Song Nhị. Trong tập Tiếng Hờn Chiến Mã có những bài rất thơ của Song Nhị. Xin trích ra đây:
1. Đàn Ngựa Hồng Trên Cánh Đồng
Hoang (trang 50)
2. Gởi Người Dưới Trăng (trang 60)
3. Từ Cõi Hồng Hoang (trang 64)
Sau khi anh Nguyễn Mạnh Côn viết “Đem tâm tình viết lịch sử” - Tiếng Hờn Chiến Mã của Song Nhị hay văn thơ của Diên Nghị, Phương Triều, Trần Hoài Thư, Bùi Ngọc Tuấn, Phạm Tường, Nguyễn Tôn Nhan... cũng như tác phẩm của nhiều chiến binh khác, làm nối dài thêm bản Trường Ca bất tận của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại.
4. Mưa Trên Đồi Cao Su (trang 138)
5. Ý Xuân (trang 140)
6. Viết thư cho vợ (trang 143)
7. Bắt đầu một ngày (trang 144)
8. Người lên đỉnh núi (trang 147)
9. Bài sinh nhật (trang 148)
10. Hai mươi sáu (trang 150)
11. Từ đó tình yêu (trang 153 - 154)
12. Khi tôi về (trang 159 - 160)
Đây chỉ là một ít bài trong Tiếng Hờn Chiến Mã mà cơn gầm thét của con Chiến Mã Song Nhị bớt tung hoành vì “Nợ Nước Thù Nhà” để cho quả tim bốc lửa của mình nói lên tiếng nói của Nữ Thần Tình Yêu đang dấy lên từ cõi tâm linh sâu kín nhất của thân xác con người.
Tôi trích dẫn để bạn tri âm cùng đọc và cảm thông với tâm tình viết lịch sử tình yêu của nhà thơ này vậy.

Sa Giang


---------------------------------
(*) Sa Giang, Việt Thần  ...

Sunday, November 27, 2011

THỤY-KHUÊ -SỰ PHÂN BIỆT VÀ BÌNH ĐẲNG NAM NỮ -


VAI TRÒ NỮ GIỚI TRONG CÔNG CUỘC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TOÀN CẦU

 Gender Equality and Gender Equity
 Women's Role in the Development of Global Economy

Thuy-Khue Tran
Bản dịch của Tiêu Duy Anh

Lời Tòa Soạn.- Bản nghiên cứu đề tài trên đây do VITAL VOICES – Global Partnership, một tổ chức phi chính phủ (Non Government Organization - NGO) đề xướng vào dịp Hè 2011.  Có 2000 Sinh Viên các trường đại học tại Hoa Kỳ gởi bài dự thi. Trong phần sơ khảo, bài viết của năm (5) Sinh viên được chọn trao Giải thưởng “Discover Prize” 2011 bằng hiện kim, vé máy bay và khách sạn. Lễ trao giải Sơ Khảo đã được tổ chức vào tuần lễ đầu tháng 11/ 2011 tại thành phố Chicago.

Để chọn giải chung khảo, năm tiểu luận trúng giải nói trên được trao cho các vị Đại sứ của năm nước nhân dịp lễ nhậm chức tân Tổng thống Chile đọc và cho điểm. Kết quả, bài tiểu luận của Thụy-Khuê, 19 tuổi, SV năm thứ hai ngành Kinh Tế Tài Chánh tại Đại học University of Chicago được điểm cao nhất trong số hai ngàn bài dự thi. Lễ phát giải thưởng “Annual Global Leadership Award” này sẽ được tổ chức vào ngày 6 tháng 6 -2012 tại Trung Tâm Trưng bày Nghệ Thuật John F. Kennedy , Washington D.C. có sự tham dự của nữ Ngoại Trưởng Hillary Clinton và một số nữ chính khách Hoa Kỳ và các nước.
Tap chi Nguon Xin cống hiến bạn đọc bài tiểu luận đã được dịch giả Tiêu Duy Anh  chuyển ngữ sang tiếng Việt.

***
Thụy-Khuê
Mọi người đều thừa nhận là phụ nữ thường sống bên lề xã hội và bên lề cuộc sống, ít tiếp cận với nguồn của cải và ít có cơ hội nên không phát huy được tiềm năng của mình. Cộng đồng thế giới đang kêu gọi những nhà lãnh đạo chính trị, những nhà hoạt động giáo dục; hoặc bất cứ người nào hãy lên tiếng đòi hỏi đẩy mạnh phong trào phụ nữ đương đại. Đó là cuộc đấu tranh giành lấy những cơ hội hiếm có. Đây là thời điểm cần chú ý đến lời kêu gọi và thừa nhận phụ nữ là lực lượng dự trữ lớn nhất chưa được khai thác sức mạnh, trí thông minh, tính sắc sảo để phát triển.

Thảo luận về những bước tiến hành nam nữ bình đẳng trong một nước đang phát triển như Rwanda và có thể vận dụng những bước đi như vậy ở Niger, một nước rất thấp về chỉ số phát triển con người để chứng tỏ sự công bằng nam nữ sẽ ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế, như là thu hẹp sự bất công tương đương với việc tăng cường cạnh tranh kinh tế. Kết luận này có ý nghĩa giải thích và đề cao nam nữ bình đẳng là một vấn đề kinh tế hơn là vấn đề thuần túy nhân quyền. Có lẽ vì quan điểm này mà sự công bằng nam nữ trong giáo dục, y tế, và trao quyền cho phụ nữ sẽ được công nhận. Điều tra những hệ quả như vậy là do trước hết biết phân tích sự khác biệt và tính tương quan giữa nam nữ bình đẳng và công bằng nam nữ.

Mặc dầu nam nữ bình đẳng và công bằng nam nữ là những khái niệm rất khác nhau và không thể chuyển hóa cho nhau được, nhưng những khái niệm đó vẫn có tính tương quan với nhau vì giành được quyền nam nữ bình đẳng sẽ dẫn đến sự phát triển công bằng nam nữ. Về phương diện này, định nghĩa về giới tính có nghĩa rộng hơn vấn đề những đặc tính khác nhau về sinh học. Định nghĩa đó có liên quan đến thuộc tính kinh tế, xã hội, văn hóa và cơ hội gắn liền với nam hoặc nữ (Spierenburg và Wels 85). Những quy tắc văn hóa và xã hội giải thích các sự việc như quần áo, cách đối xử, nghề ngiệp, tham vọng và tài năng nào thích hợp với phụ nữ. Những mong đợi này là những giới hạn vô hình mà phụ nữ phải đối phó hàng ngày. Tuy nhiên, bộ máy xã hội tạo nên ước mong của nam nữ cũng không thể đem lại cho họ sự bình đẳng, và cuối cùng là công bằng nam nữ. Hiểu biết nam nữ bình đẳng bao gồm nam nữ đều vui thích như nhau về những hàng hóa có giá trị xã hội, về những cơ hội, của cải và phần thưởng, nhưng không có nghĩa là hoàn toàn giống nhau (Dodhia, Johnson và Secreturiat 33).

Có cùng một cơ hội trong cuộc sống là bước đầu để nam nữ cùng chia sẻ quyền lực, ảnh hưởng và mọi lãnh vực của cuộc sống. Mặc dầu có được nam nữ bình đẳng là có tất cả phương tiện và các thứ quyền, vẫn chưa thể bảo đảm sự Công bằng, Bình đẳng - là một thuật ngữ có tính khách quan, có nghĩa trắng đen rõ rệt, không giải thích nhu cầu và kinh nghiệm khác nhau giữa nam nữ. Bình đẳng nam nữ không thích hợp với những dị biệt đó. Ví dụ người cha và người mẹ rời khỏi nơi làm việc, cả nam và nữ đều có quyền nghỉ phép năm ngày bằng nhau. Tình trạng rõ ràng là bình đẳng, thế mà vẫn còn bất công. Chỉ cần đối xử bình đẳng mà vẫn không thích nghi với tính dị biệt quan trọng nam nữ có thể ảnh hưởng đến hệ quả của cách cư xử bình đẳng. Trái lại, công bằng nam nữ có nghĩa đầy đủ hơn nam nữ bình đẳng.

Công bằng nam nữ xem xét tính dị biệt nam nữ và cho ta phương pháp rút ra cái lợi từ sự bình đẳng. Công bằng có hàm ý vô tư trong cách cư xử của hai giới tính. Đây là một từ được tiêu chuẩn hóa bao gồm những sắc thái của nhu cầu cân bằng sân chơi cho tất cả. (Ground và Valodia 8). Công bằng nam nữ không phải là một mẫu mực đúng hay sai mà chỉ là sự đền bù cho phụ nữ những điều kiện bất lợi có tính lịch sử và xã hội. Vì vậy, khi có cơ hội họ phải được hưởng lợi. Để thực hiện sự bình đẳng đích thực đến mức cao nhất, luật pháp và chính sách cần vượt lên trên sự quy định về công bằng, cần giải thể quy chế thấp kém của phụ nữ và lưu tâm đến những thiệt thòi mà phụ nữ phải chịu đựng với tư cách là công dân hạng hai.

Trong khi nam nữ bình đẳng là quan yếu, nhưng chưa giúp phụ nữ vượt qua sự phân biệt và thiên kiến dựa theo giới tính. Nam nữ bình đẳng sẽ dẫn đến sự công bằng nam nữ. Nam nữ bình đẳng thể hiện trong hàng loạt các quyền chính trị, kinh tế, dân sự, xã hội và văn hóa, nhưng công bằng nam nữ  là trao quyền cho phụ nữ sử dụng những quyền đó để hoàn thành triệt để tiềm năng của mình. Nếu vì nhiệm vụ chính trị và cộng đồng, thì lúc đó các quan điểm văn hóa, truyền thống và tôn giáo phải được kiểm nghiệm để thay đổi nhằm nâng cao ngang bằng nam giới và thậm chí còn hơn nữa.

Khi một dân tộc quyết định cải tiến quyền phụ nữ trong nước, là đồng thời họ cũng nâng cao phúc lợi cho đất nước.

Bất chấp thân phận là một nước nghèo đang phát triển, Rwanda đã giành những bước tiến phi thường nhằm nâng cao nam nữ bình đẳng qua những lần tiếp cận với chính giới, y giới, và giáo giới. Phong trào phát triển nhanh và cải tiến nam nữ bình đẳng một lần nữa được đưa vào lịch trình chính trị của Rwanda khi “Tổ chức Phi chính phủ và Phụ nữ Bình dân” gặp những đại diện của Bộ Giới Tính và Phụ Nữ trong cơ quan Phát Triển và Diễn Đàn Nữ Nghị Sĩ để đưa ra những chi tiết làm cho hiến pháp nổi bật phái tính và tăng cường đại diện phụ nữ trong chính phủ (Ballington 158).

Sự cộng tác giữa thành viên cộng đồng và các viên chức nhằm giải quyết tốt hơn phúc lợi nhân dân đã nâng cao nam nữ bình đẳng và phát triển con người. Tầng lớp vô sản cũng đòi thực hiện có hiệu quả những điều luật có liên quan đến giới tính. Năm 2003, quốc hội chuẩn y hiến pháp: nói về nhiệm vụ bảo đảm quyền bình đẳng giữa những người Rwanda và giữa nam nữ mà không có thành kiến về nguyên lý nam nữ bình đẳng và thiết dụng chỉ tiêu tiến bộ về giới tính đòi hỏi ít nhất 30 phần trăm số ghế trong quốc hội do phụ nữ đảm nhiệm (Olonisakin và Ikpe 110). Trước đó, phụ nữ Rwanda hoàn toàn có quyền bầu cử và quyền ra tranh cử, chấp nhận nam nữ bình đẳng trong bối cảnh có quyền lợi chính trị và đại diện. Tuy nhiên, nếu chỉ tăng chút quyền cho phụ nữ thì lý tưởng bình đẳng tỏ ra chưa thích hợp và kém hiệu quả.. Chính phủ và nhân dân Rwanda thừa nhận và sửa chữa khuyết điểm này cho nên đã dành 24 ghế trong quốc hội qua một cuộc bầu cử toàn phụ nữ, có nghĩa là chỉ có phụ nữ ứng cử và chỉ có phụ nữ đi bầu. Rwanda đã thực hiện công bằng nam nữ bằng thể thức dân biểu quốc hội và tăng cường những biện pháp giảm thiểu những trở lực của phụ nữ.

Hiện nay, phụ nữ Rwanda có đại diện cao nhất trong quốc hội so với các nước trên thế giới, tăng thêm 15 ghế trong cuộc tranh cử công khai. Và hiện nay chiếm tổng số 56.3 phần trăm số ghế (Ballington 158). Có phụ nữ cùng chia sẻ trách nhiệm chính trị và ảnh hưởng là một thắng lợi to lớn đối với sự công bằng theo ý nghĩa sâu xa nhất của nó. Những nước chấp nhận phụ nữ tham gia tiến trình đề ra quyết định đã chứng tỏ sự công bằng quyền lực, nói chung đã chấp nhận nhân dân có quyền tự quản nhiều hơn là chế ngự cuộc đời họ.

Rwanda còn có những cải tiến lớn chống lại sự bất công trong chức năng có liên quan đến lãnh vực cá nhân nhất của đời sống con người, đó là quyền làm chủ – Phụ nữ không có quyền hành đối với đời sống tình dục và sinh con. Thân thế họ như bị giam cầm – Về bản chất, quyền làm chủ gắn liền với việc thực hiện tiềm năng cao nhất của phụ nữ; thai nghén thiếu kế hoạch, cưỡng ép tình dục, bệnh truyền nhiễm là những trở lực phổ biến nhất của phụ nữ trong các nước đang phát triển. Vì vậy, Rwanda đã kiến lập những cải tổ sâu rộng về y tế và kế hoạch gia đình.

Năm 1981, chính phủ Rwanda thiết lập văn phòng dân số toàn quốc, sáp nhập kế hoạch gia đình vào các cơ quan chăm sóc sức khỏe bao gồm “chế độ trợ cấp cho người thụ thai và đào tạo Cán Sự Y tế theo dõi kế hoạch gia đình” (Angwafo và Chuhan – Pole 461). Sau đó, các dịch vụ này đã tạo ra những thay đổi thực sự. Từ năm 1992 đến 2007, tỷ lệ thụ thai tăng 20% trong khi tỷ lệ tử vong mẹ và con giảm 22% (Angwafo và Chuhan – Pole 456).

Khi nhiệm vụ và hoạt động chính trị còn hiện hữu, luật pháp có thể cải tiến ý niệm công bằng nam nữ qua các vấn đề sức khỏe, quyền hạn và hạnh phúc con người. Biện pháp này gắn liền công bằng nam nữ với tự do, từ sự phân biệt và thỏa mãn tình dục; từ sinh hoạt tình dục và tiếp cận cởi mở an toàn cho đến tin tức và dịch vụ liên quan đến quá trình sinh sản. Những quyền đó là rất cần thiết để hỗ trợ sự phát triển phụ nữ và dân tộc, vì chỉ có những người khỏe mạnh và sống an toàn mới có thể phát huy tham vọng, tài năng và hứng thú đến mức đầy đủ nhất. Tương lai một dân tộc gắn chặt với số phận phụ nữ.

Rwanda tiếp tục vươn lên, tạo cơ hội cho phụ nữ và dân tộc tiến tới một tương lai sáng sủa qua con đường giáo dục. Đến lượt giáo dục phát sinh kiến thức. Và kiến thức là sức mạnh trong lãnh vực xây dựng xã hội, chính trị và kinh tế. Nhận thức thực tế này, hiến pháp Rwanda quy định các trường tiểu học công lập cho học miễn phí, không từ khước một người nào, hoặc loại bỏ người nào vì lý do giới tính (Booth và Briggs 28). Phụ nữ phải có triển vọng tiến tới kỹ năng và kiến thức tương đương với nam giới. Chính phủ cũng đặt thêm cơ chế để tăng cường hỗ trợ sự công bằng nam nữ như “trừng phạt cha mẹ không cho con đi học, hợp nhất với xã hội, hướng dẫn lựa chọn nghề nghiệp không phân biệt, những phụ nữ nên tiếp cận với các chủ đề không có tính truyền thống và học bổng tương đương dành cho nam nữ ghi tên ở trường tiểu học mà Rwanda bây giờ đang khoe khoang (Booth và Briggs 28).
Những chính sách giải tỏa các chướng ngại để tiến tới sự bình đẳng đều tỏ ra rất có kết quả. Chẳng may, không có nền văn hóa nước nào lại không có sự bất công. Niger, một nước có nhu cầu phát triển cấp bách có thể tiếp thu được nhiều lợi ích từ những biện pháp ứng dụng tại Rwanda. Những bước tiến hành nói trên trong địa hạt chính trị, kế hoạch gia đình và giáo dục có thể giúp Niger tiến tới để thực hiện bình đẳng nam nữ. Trong điều kiện hoạt động chính trị, những phụ nữ điều hành các tổ chức sẽ tiếp xúc với các nhà lãnh đạo cộng đồng và các viên chức đắc cử để nói lên những vấn đề, những điều đáng chú ý và những gợi ý liên quan đến hợp pháp hóa quyền phụ nữ trong hiến pháp. Hiện nay ở Niger phụ nữ chỉ chiếm 12% số ghế ở quốc hội, một kinh nghiệm về số đại diện bình đẳng (Skaine 128).

Lập chỉ tiêu giới tính liên quan đến thành phần quốc hội sẽ giúp phụ nữ vạch ra định hướng và hành động để hoàn thành và giữ vững phúc lợi trong cuộc sống của họ. Tất cả những cuộc vận động đều phải khích lệ mọi người yểm trợ việc thi hành luật nam nữ. Điều đó sẽ làm sáng tỏ thêm ý nghĩa của sự công bằng nam nữ. Những cuộc vận động tương tự có thể áp dụng để xác lập các đạo luật về phụ nữ nhằm hoàn thành và giữ vững sức khỏe khi thai nghén, sức khỏe tình dục, cơ hội đi học. Qua tiến trình cổ động liên minh và thực hiện, những vấn đề như thiếu kế hoạch gia đình, thiếu trường tiểu học và trung học có thể nên công bố để quần chúng và quốc hội quan tâm. Ở Niger không có nơi nào để đi và tiếp cận với người điều khiển ngành giáo dục. Dịch vụ và tin tức về kế hoạch gia đình đều có sẵn ở khắp nước như Rwanda, vì vậy có khả năng tạo sự thay đổi lớn như bảo vệ phụ nữ được an toàn khi phá thai, tránh cái chết liên quan đến thai nghén và lạm dụng tình dục. Phụ nữ có quyền học trường tiểu học miễn phí và không bị kỳ thị. Phụ nữ có quyền đi học, đi làm và phát huy đầy đủ tiềm năng của mình. Nói chung tình hình thay đổi ở Niger là phụ nữ được nói lên những vấn đề của mình, được chính phủ lắng nghe và cộng tác vì tính công bằng nam nữ.

Các nước đang phát triển rất ham muốn nam nữ được bình đẳng không chỉ nâng cao sự phát triển con người mà còn phát triển cả về kinh tế. Chấp nhận một nửa dân số thế giới được vào các lớp học, nhà máy và nền công nghiệp sẽ bảo đảm kinh tế phát triển dài lâu. Công bằng nam nữ cho chúng ta phát huy vốn quý của con người, ai nấy đều có tính xã hội, phát huy tài năng, kiến thức, phẩm chất cá nhân và kỹ xảo, thể hiện trong khi lao động để mang lại giá trị kinh tế. Vì vậy trong nhiều bản nghiên cứu tập trung vào vốn qúy con người. Kết quả là vốn quý ảnh hưởng một phần đến sự phát triển của Tổng Sản Lượng Nội Địa, nghĩa là tính tương quan tích cực và mạnh mẽ giữa sự phát triển vốn quý và thành tựu kinh tế (Leeuwen 171).

Đặc biệt, bản nghiên cứu ở Nam Dương và Ấn Độ cho thấy vốn quý và sản lượng phát triển nửa phần đầu của thế kỷ 20 tới 56% của tổng sản lượng nội địa (Leeuwen 78). Trên quy mô rộng lớn, có sự liên hệ lâu dài giũa tổng sản lượng nội địa và vốn quý nhờ sự tích lũy dần dần của những đổi thay. Lý luận về vốn quý của con người cho rằng đầu tư bằng nhân
lực như giáo dục và đào tạo nghề nghiệp, nâng cao khả năng của thị trường lao động vì vậy tăng thu nhập cho các chủ hộ, tạo thịnh vượng trực tiếp cho từng gia đình và cuối cùng tạo thịnh vượng cho các xã hội trên thế giới. Tuy nhiên, nâng cao vốn quý của con người và phát triển kinh tế sẽ dẫn đến hiệu quả của sự công bằng nam nữ.

Mô hình rõ rệt của những phụ nữ không được tiếp cận với nguồn của cải và không có cơ hội đang gây ra khoảng cách lớn giữa nam nữ, và nói chung làm cho kinh tế phát triển chậm tại nhiều nước. Tuy nhiên, vì địa vị thấp kém của phụ nữ, việc đầu tư bằng lực lượng nữ sẽ không đạt kết quả lớn. Chính vì phụ nữ thường ít học và vì không có báo cáo về học lực, cho nên phụ nữ sẽ phải cố gắng nhiều hơn. Vì vậy, về tổng thể, nền giáo dục và phát triển phụ nữ sẽ tạo ra những hiệu quả xã hội và kinh tế cao hơn nam giới (Schultz 85).
Như đã cho thấy, đầu tư toàn bằng nhân lực nữ là tính toán kinh tế rất thông minh. Công bằng nam nữ – phụ nữ tham gia chính trường, ngành y tế và giáo dục – có thể đầu tư bằng vốn quý của con người, nếu không, kinh tế và xã hội trên thế giới sẽ mất tiềm năng.

Hơn cả một chỉ dấu phát triển con người, công bằng nam nữ giữ một vai trò trong sự thịnh vượng kinh tế; đặc biệt trong bối cảnh có những dị biệt giới tính lớn lao và trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Như đã thảo luận, có thể xem xét những biện pháp tiến tới bình đẳng nam nữ rồi mới tới công bằng nam nữ để cùng ứng dụng nhằm phát triển kinh tế thế giới. Rõ ràng là cái giá của sự phân biệt đối xử với phụ nữ  không chỉ đơn thuần là phân biệt mà còn là biểu hiện của thiếu khả năng cai trị, tỷ lệ nghèo khó trầm trọng, kém sức khỏe, sự bất công lâu đời và nhiều nhược điểm khác. Những vấn đề ngăn trở phụ nữ, cũng ngăn trở cả thế giới.
Bây giờ chúng ta hãy nghe tiếng nói của thế giới đó, chúng ta hãy học tập tiếng nói đó để không còn ngu muội nữa.

Thuy-Khue
-------------------------------
Sách tham khảo:

Ballington J. 2006 – Phụ nữ ở Quốc Hội. Ngoài các con số. Sacramento: Tư Tưởng Quốc tế.
Booth J. và Philip Briggs 2010. Rwanda. London: Hướng dẫn Du Lịch Bradt.
Chuhan-Pole P. và Manka Angwafo 2011. Vâng, Phi Châu có thể: Những mẩu chuyện thành công ở một lục địa đầy sức mạnh – London: Ngân hàng Thế giới xuất bản.
Dodhia D., Johnson T. và Ban Thư ký Khối Thịnh Vượng Chung 2005: Sự Phân Chia Giới Tính là yếu tố chủ đạo trong việc quản lý nợ nần và phát triển nguồn của cải – sách chỉ dẫn cho những người làm nghề cho vay nợ và luật sư chuyên về phân biệt giới tính. London, Ban Thư ký Khối Thịnh Vượng Chung.
Grown C. và Imraan Valodai 2010. Hệ thống thuế và công bằng trong phân biệt nam nữ- bảng phân tích so sánh thuế trực thu và gián thu trong các nước đang phát triển và đã phát triển Ontario: IDRC.
Leeuwen B. 2007 – Vốn quý con người và phát triển kinh tế ở Ấn Độ, Nam Dương và Nhật Bản: Phân tích định lượng, 1890-2000. Oisrerwijk: Box Press Shop.
Olonisakin F. và Eka Ikepe 2010 – Phụ nữ, Hòa bình và An ninh. Chuyển chính sách thành hiện thực. London: Taylor & Francis .
Chultz P. 2004. Bằng chứng trở lại trường học ở Phi châu theo bản thăm dò các chủ hộ. Theo dõi và tái cấu trúc thị trường giáo dục. Nơi An Toàn Mới: Trung tâm Phát triển Kinh tế.
Skaine M. 2008 – Phụ nữ lãnh đạo chính trị ở Phi châu. Jefferson, Mc Farland & Công ty
Spierenbury M. và Henry Wells 2006. Văn hóa, tổ chức và Quản lý ở Nam Phi. New York. Nhà xuất bản Nova.

Tuesday, November 15, 2011

Tác giả Tác phẩm - Đỗ Tiến Đức


Cái Hay Của Tác Phẩm Nửa Thế Kỷ Việt Nam
Là Cái Ngậm Đắng Nuốt Cay Của Dân Tộc Việt

Đỗ Tiến Đức

(Phát biểu về cuốn Nửa Thế Kỷ Việt Nam của nhà văn Song Nhị 
trong buổi ra mắt tại hội trường báo Người Việt)

Thưa qúy ông bà, anh chị em,
Hôm nay chúng ta đến đây để mừng đứa con tinh thần của nhà văn Song Nhị. Nhưng khác thường lệ, chúng ta không được mừng đứa con tinh thần đó vào ngày nó chào đời vì nó đã chào đời 4  tháng trước tại San José. Hôm nay chúng ta mừng đứa con tinh thần đó đã chập chững đi những bước nhanh nhẹn vào văn học sử nước nhà, vâng, thưa qúy vị, cuốn sách đã được tái bản lần thứ nhất.
Vấn đề là, cuốn “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” của nhà văn Song Nhị tại sao lại được độc giả tìm đọc nhiều như thế ?

Bởi vì chưa mở cuốn sách, chỉ riêng cái tựa “Nửa Thế kỷ Việt Nam” cũng đã cho ta nghĩ rằng tác giả viết về những biến cố trên đất nước Việt Nam trong nửa thế kỷ vừa qua. Mà trong nửa thế kỷ đó thì ai cũng đã biết, thế nào chẳng có những cảnh đấu tố thời cải cách ruộng đất, những cảnh người miền Bắc di cư vào Nam, những cảnh thời chiến tranh quốc Nam cộng Bắc, những cảnh thời Mỹ đổ quân vào Việt Nam, và cuối cùng là những cảnh quân cán chính miền Nam lũ lượt đi vào trại tù nhưng, mỉa mai thay, được gọi lả đi “học tập cải tạo” sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản.

Đó là những chuyện mà người Việt Nam ở những thế hệ trước đều trải qua không ít thì nhiều, và những thế hệ sau cũng đã nhiều lần nghe ông bà, cha anh nói, nên cũng  biết không nhiều thì ít.
Lại nữa, chúng ta đã thấy một số nhân chứng và nạn nhân của những thời kỳ đó đã viết sách viết báo. Nhiều nghệ sĩ đã dựa vào những tài liệu sống này để làm phim làm nhạc làm kịch.
Cuốn “Nửa Thế kỷ Việt Nam” của nhà văn Song Nhị cũng viết về những đề tài đó mà lại hấp dẫn độc giả là do nhiều nguyên do:

Thứ nhất, ông Song Nhị là một nhà văn có tài và có tâm. Ông viết những chuyện đầy máu và nước mắt của dân tộc Việt, và hình như trong quảng cáo của ban tổ chức ra mắt sách có câu, ông “viết bằng máu và nước mắt của hàng triệu nạn nhân cộng sản”, nhưng riêng tôi, khi đọc sách của ông, tôi cứ mường tượng đang được nghe một ông già bình thản kể chuyện đời xưa với giọng nói bao dung và nồng nàn thương yêu...
Tôi không thể quên được đoạn văn ông tả cảnh thăm nuôi sau 5 năm xa cách. Bố ông chỉ có hai nải chuối xách theo. Bố ông nói: “Này, anh đưa mời các anh, người một trái”. Người cảnh vệ đã tiến lại nói với bố ông: “Không được”. Còn vợ ông, trong 15 phút thăm nuôi, sau hàng tuần lễ đi từ Sài gòn ra, chỉ nhìn nhau nước mắt lưng tròng. Ông viết: “Nhìn thấy tôi, cái xách trên tay nhà tôi đang cầm rơi tuột xuống mặt đường!”.
Chỉ có từng ấy chữ thôi. Nhưng đó là những dòng chữ khắc trên bia đá.

Thứ hai, trời đã cho ông Song Nhị một trí nhớ đặc biệt, khiến những chuyện xẩy ra vài chục năm trước mà ông viết ra vẫn đầy đủ chi tiết, tưởng như lúc nào ông cũng mang theo cuốn sổ tay và cái máy chụp hình. Hàng trăm người tù được ông ghi lại trong đó có ba đồng môn Quốc gia hành chánh của tôi một cách rất chính xác. Một người là anh Nguyễn Chí Vy bị công an bắt khi vừa vào trại Long Thành năm 1975. Một người là anh Nguyễn Văn Long, chết ở trại Long Thành 35 năm trước. Một người là anh Nguyễn Phát Lộc trong giờ phút cuối cùng của Miền Nam tự do.

Thứ ba, tác phẩm của ông Song Nhị có một bối cảnh dài tới nửa thế kỷ, mà trong nửa thế kỷ đó như ông nói, có hàng triệu nạn nhân, tức có hàng triệu người đau đớn, mà cộng sản lại rất giàu sáng kiến về cách làm cho con người phải đau đớn, rồi thì chém giết một hay nhiều mạng người một cách dễ dàng nên không ai tưởng tượng được những gì hàng triệu nạn nhân đó phải gánh chịu, phải chết.
Hàng triệu nạn nhân đó trở thành hàng triệu nhân vật cho nhà văn đưa vào sách. Cho nên dù đã có nhiều người viết trước đây, ông Song Nhị vẫn còn rất nhiều chất liệu hoàn toàn mới để hấp dẫn độc giả.
Như các cụ đã nói “miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời”. Quả thế, những biến cố đau thương của đất nước đó đã hằn vào tim óc mọi người dân Việt. Do đó nhiều người đã kiếm sách của Song Nhị, đọc để tìm lại mình những ngày qua, đọc để thương cho mình, vì ai cũng chỉ có một cuộc đời với số năm tháng ngắn ngủi, trong khi các dân tộc khác cố thăng hoa cuộc sống, cố hưởng thụ nhiều hơn, thì chúng ta bị đắm chìm trong các cảnh đọa đầy, bị nhục mạ, bị hành hạ, bị dồn vào cảnh ngày đêm chỉ còn nghĩ tới làm sao cho bớt đói.

Như thế, tác phẩm của nhà văn Song Nhị viết về đất nước Việt Nam nửa thế kỷ qua, sẽ giúp cho người đời sau, nhất là với những người trở thành gốc Việt ở quê hương mới, hiểu biết về một giai đoạn đen tối cùng cực của đất nước. Cuốn sách đã thành công vì tác giả đã trình bầy trung thực nhiều hiện tượng của mỗi chủ đề.
Nhưng theo tôi hiểu, chủ đích của ông Song Nhị khi nêu lên những hiện tượng nghiệt ngã của dân tộc, hoàn toàn không phải chỉ để độc giả giải trí như đọc một tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm đường rừng mà trong đó thay vì hùm beo rắn rít là công an là cán bộ là đảng viên lúc nào cũng gây nghẹt thở, lúc nào cũng rình rập từng bước ta đi, và lúc nào cũng thích ăn thịt người dân.

Cho nên, khi đọc Nửa Thế Kỷ Việt Nam, xin đừng qúa chú ý vào hiện tượng mà quên bản chất.  Đi tìm bản chất của cộng sản mới chính là chủ đích của ông Song Nhị, cụ thể như ông đã bỏ công sưu tầm những văn kiện của cộng sản Việt Nam về cải cách ruộng đất về tù cải tạo và Ông đã dành nguyên một chương sách, chương 17 để sưu tầm  chương trình H.O. đưa cựu tù nhân cộng sản sang Mỹ định cư. 
Quả thế, nếu chỉ hiểu “cải cách ruộng đất” là những cảnh đấu tố, cướp nhà cướp đất, nếu chỉ hiểu “Học tập cải tạo” là đi học tập hay cho dù hiểu thêm đó là đi tù, bị bỏ đói, bị lao động kiệt sức, và nếu chỉ hiểu “chương trình HO” là do lòng nhân đạo, thì theo tôi, chúng ta mới nhìn hiện tượng mà chưa hiểu bản chất thâm độc của cộng sản. Thành ra sẽ có người hiểu sai, chẳng hạn tù cải tạo bị đói là vì sau chiến tranh, lương thực bị thiếu, cả nước ai cũng đói thì tù cải tạo phải chung số phận đó thôi.

Tác giả cuốn Nửa Thế Kỷ Việt Nam đã cho chúng ta thấy rõ hơn bản chất của chủ nghĩa cộng sàn Mac-xit Le-nit-nit và bọn tàn dư Hà Nội. Cộng sản như rắn độc, con nào càng độc thì màu da càng sặc sỡ. Cũng thế, các nghị quyết khát máu bao nhiêu thì chúng lại có những cái tên hiền lành bấy nhiêu, như cải cách, cải tạo, khoan hồng, nhân đạo.
Cái gọi là Cải cách ruộng đất đến cái gọi là học tập cải tạo, chủ trương của cộng sản khẳng định là xóa bỏ văn hiến truyền thống của dân tộc để thay thế bằng học thuyết tam vô của cộng sản độc tôn.
Chúng xúi giục con tố cha vợ tố chồng không phải chỉ để giết hại một cá nhân đó, mà để phá vỡ vai trò trụ cột trong gia đình của người cha, để rồi Đảng và Bác sẽ thay thế vai trò đó. Chúng đánh phá tôn giáo cũng không ngoài ý đồ tạo cơ hội để Đảng và Bác thay thế Chúa, thay thế Phật trong lòng nhân dân.

Tất cả những người từng bị bắt đi “học tập cải tạo” đều xác nhận, cộng sản không hề thực hiện điều gì để gọi là “học tập” hay “cải tạo”. Một cán bộ cao cấp của cộng sản đã nói với đám tù chúng tôi tại Phú quốc năm 1976 rằng: “Đầu các anh đã có sạn cả rồi thì còn cải tạo con mẹ gì nữa? Thực tế là đảng nhốt các anh lại để cải tạo xã hội”. Cải tạo xã hội có nghĩa là biến cái sung túc của miền Nam xuống ngang hàng cái nghèo đói của miền Bắc, biến cái sinh hoạt tự do dân chủ của Miền Nam vào cái sinh hoạt kìm kẹp của cộng đảng.
Để đánh phủ đầu, Cộng sản tròng lên nhân dân miền Nam tiếng “ngụy” kèm với bản án “nợ máu” để gây ấn tượng cho mọi người cái mặc cảm có tội mà rồi không dám phản ứng chống đối các trò hành hạ, bóc lột của chúng.
Trước hết chúng bắt các ông bố đi cải tạo với ý đồ tạo cơ hội cho Đảng và Bác chiếm chỗ của những ông bố, quàng khăn đỏ vào cổ những đứa trẻ cho chúng trở thành “cháu ngoan Bác Hồ”. Khi nào các con cái nhà ngụy hăng hái báo cáo với thầy cô giáo những ai tới nhà ngày hôm qua, hay mẹ cho ăn món gì, thì được Đảng coi là có “tiến bộ”. Với em nào không tiến bộ sẽ không được lên lớp, không được vô đại học mà đi thanh niên xung phong.
Đối tượng thứ hai của chính sách cải tạo là Đảng tìm mọi cách đẩy các bà vợ người tù gia nhập các tổ chức ngoại vi của đảng ở phường khóm cho đến khi xung phong đi kinh tế mới, thì đưọc coi là “tiến bộ”.
Mục tiêu thứ ba của đảng là cải tạo tài sản. Đảng không chấp nhận người thắng trận lại nghèo hơn người thua trận.. Vì thế chúng ra tay trù ếm, bao vây kinh tế, làm tiêu hao của cải tiền bạc dành dụm được, để vợ người tù phải bán dần từ đồng hồ, ti vi tủ lạnh, phải cạy cả gạch men lót nền nhà đem bán, và cuối cùng là bán nhà, chấp nhận mang  con lên khu kinh tế mới.
Bản chất của cái gọi là “học tập cải tạo” ác độc như thế mà người ngoại quốc dịch là re-education thì thật là mỉa mai cho hàng trăm ngàn quân dân cán chính đả bị cộng sản bắt vô tù.. Nếu không nhìn rõ bản chất của nó, thế hệ sau sẽ tự hỏi cha ông chúng “được” đi học lại như đi tu nghiệp thì có gì mà kêu khổ?
Cũng thật là mỉa mai khi Chương trình cựu tù nhân chính trị được Mỹ nhận định cư  gọi là chương trình “nhân đạo”. Tác giả Song Nhị đã cho độc giả thấy bản chất của chương trình này rõ ràng là cộng sản đã dùng các cựu tù như một món hàng để đổi chác với Mỹ, đồng thời chúng còn mong đạt được ý đồ quan trọng khác là tống ra khỏi nước một khối lượng người có khả năng chống lại chúng. Hậu qủa rõ ràng là ngày nay, ở trong nước, số người ở miền Nam công khai đấu tranh quyết liệt cho dân chủ ít hơn ngoài miền Bắc. 

Cuốn Nửa Thế Kỷ Việt Nam viết dưới thể bút ký tự truyện tức là trình bầy sự thực của Việt Nam trong nửa thế kỷ qua. Nếu cuốn sách càng hấp dẫn, càng lôi cuốn thì điều đó chứng tỏ quê hương dân tộc của chúng ta đã trải qua quá nhiều cảnh ai oán, đau đớn.
Nơi đầu Chương I của cuốn sách, ông Song Nhị than “Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu”. Theo tôi, mai sau nếu còn tái bản, ông Song Nhị nên sửa lại câu này rằng: “Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao tốt”. Vì sinh ra dưới một ngôi sao tốt nên hàng triệu đồng bào đồng đội đồng hương của ông te tua mất mạng, ông vẫn sống mạnh khoẻ tới ngày nay. Và quan trọng hơn nữa, ngày nay, với cuốn Nửa Thế Kỷ Việt Nam, ông còn vinh dự được hàng triệu người sinh ra đời dưới ngôi sau xấu kia vô cùng cảm ơn vì ông đã nói thay họ những điều họ muốn nói với nhân loại.

Thưa qúi vị, thưa anh chị em,
Nhưng những thảm kịch đó, sau nửa thế kỷ, nếu có chấm dứt đối với tác giả Song Nhị thì những thảm kịch đó ngày hôm nay vẫn còn diễn biến trên quê hương chúng ta. Bởi vì như đã trình bầy, hễ còn người cộng sản thì chắc chắn vẫn còn cái bản chất duy vật ác độc, cá nhân chủ nghĩa tham lam, độc tài độc tôn ngạo mạn.
Nếu trong trại tù cải tạo, tác giả Song Nhị chứng kiến một tù nhân bị bộ đội đạp ngã sấp mặt xuống hố phân, thì giờ đây một thanh niên đi xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, bị công an bắt vô đồn, chỉ hai tiếng đồng hồ sau đã chết vì những cái đấm cái đạp hoàn toàn không thù không oán. Nếu trong trại tù cải tạo, hay trong thời cải cách ruộng đất, nhiều người bị bỏ đói thì bây giờ ở Việt Nam vẫn có những trẻ thơ bị người lớn thản nhiên vặn răng, tống khúc củi vô miệng, gí bàn ủi nóng lên thân thể cho cháy từng mảng da thịt, cũng không thù không oán. Hàng ngày ở Việt Nam ngày nay đều đều có năm bẩy người chết thảm rất tình cờ chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt hay chỉ vì một đôi bông tai trang sức không đáng giá. Trẻ nít mới năm bẩy tuổi đã bị hiếp dâm có đáng để loài người phải kêu trời chưa?
Những lời kêu gọi thương yêu như “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” hoàn toàn vô nghĩa trước bản chất cùng hung cực ác và vô cảm dưới thời đại cộng sản.
Do đó, chúng tôi rất hoan nghênh những cuốn sách như cuốn Nửa thế kỷ Việt Nam của nhà văn Song Nhị. Tôi mong cuốn sách sẽ trở thành niềm hứng khởi cho tất cả những ai từng là nạn nhân cộng sản, chúng ta hãy bỏ thì giờ ngồi viết lại những gì mình đã nhục nhã và đau đớn trải qua cho con cháu đọc như một bản “Gia Huấn Ca”.

Thưa qúi ông bà và anh chị em,
Cuốn Nửa Thế Kỷ Việt Nam được nhiều người khen hay. Vâng, “rằng hay thì thực là hay, nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”.  Cái ngậm đắng nuốt cay của cô Kiều chỉ vì hồng nhan đa truân đã khiến người đời thương xót. Như thế còn cái ngậm đắng nuốt cay của hàng triệu nạn nhân cộng sản đã và đang vật vờ trên quê hương Việt Nam chẳng lẽ chúng ta nỡ làm ngơ sao cho đành?

Đỗ Tiến Đức


Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...