Sunday, December 21, 2014

Tác Phẩm Mới




DÒNG CỔ NGUYỆT
Thơ Tuệ Nga
Cội Nguồn XB 
Sách khổ 17 x 29cm dày 484 trang
Bản đăc biệt in trên giấy láng mịn.

Một Nhận Định Tổng Thể Về THƠ TUỆ NGA
SONG NHỊ

Trong văn học Trung Hoa, từ thời đại xa xưa, Chu Hy cho rằng “nhân chi sơ tính bản tĩnh”. Từ “bản tĩnh”, do cảm xúc của dục tính mà “tĩnh” chuyển sang “động”. Và một khi tâm đã động thì trí sẽ vận dụng đến suy tư, khi đã suy tư thì phải thốt lên bằng tiếng nói. Lời nói không đạt tới được cái tận cùng của cảm xúc nên sinh ra vịnh thán. Khi đã vịnh thán thì không thể không vận dụng đến tiết tấu tự nhiên từ mối rung động xốn xang... Và từ mối rung động đó mà một thể tính cảm xúc xuất hiện. Người ta gọi đó là nguồn thơ.

Tất cả những người làm thơ đều có nguồn cảm xúc giống nhau, như nhau. Khác nhau là ở cái căn nguyên từ đối cảnh, đối tình của mối rung động. Nguồn cảm xúc ấy vượt lên trên, không chỉ là một tâm sự tách bạch. Một bài được gọi là thơ, diễn đạt để phô bày một tâm trạng chưa hẳn là một bài thơ, đó không phải là nguồn thơ. Nguồn thơ là dòng chảy mênh mông bất tận, dẫu cho đến khi cuộc sống có mỏi mòn, thể xác kia có già nua thì nguồn thơ vẫn không tàn héo.
Tuệ Nga chưa hẳn đã đi tìm ngọn ngành của nguồn thơ như ý người xưa mà tôi vừa biện dẫn. Cũng không phải ngẫu nhiên để bà có những tác phẩm với các tựa đề: Suối, Suối Hoa, Suối Trầm Tư, Hoa Đài Dâng Hương, Hoa Sương, Về Bên Suối Tịnh, Từ Giòng Sông Trăng và nay là Dòng Cổ Nguyệt… đó là những thi phẩm tập hợp nhiều mối cảm xúc từ một nguồn thơ lai láng trong tâm hồn tác giả.

Thơ Tuệ Nga thường tập trung vào ba chủ đề chính, thể hiện cảm xúc chất chứa dạt dào từ trong tâm khảm: Mẹ, Quê Hương và Tâm Đạo. Ba chủ đề, ba nội dung này có khi trộn lẫn, chan hòa, xen kẽ vào nhau, người đọc dễ dàng nhìn thấy trong từng bài thơ, trong từng chương đoạn, dù không được sắp xếp rạch ròi.

Mẹ – một hình ảnh, một biểu tượng đẹp tự nhiên muôn thuở của nhân loại, nhất là đối với Á Đông, và với con người Việt Nam.
Mẹ - với Nhà thơ Tuệ Nga không còn trong phạm trù mẫu tử, Mẹ là vầng trăng vằng vặc, là đóa hoa tươi thắm, là làn hương thơm ngát, là thanh âm dịu ngọt:
Từ tình cảm mẫu tử thiêng liêng đằm thắm, dưới ngòi bút Tuệ Nga, mẹ đã hoá thân thành quê hương, hay đúng hơn quê hương đã hoá thân thành người mẹ, một sự đồng hóa chỉ có ở những tâm hồn dạt dào lòng yêu nước, yêu quê hương của mình. Với Tuệ Nga, hai hình ảnh – quê hương và mẹ đã hòa nhập thành một chủ thể cảm xúc trong tâm hồn nhà thơ: Tình Mẹ và Tình Quê. Mẹ và Quê Hương là một. 

Đọc những bài thơ Tuệ Nga nói về trăng, về quê, về mẹ mới thấy ở tâm hồn nhà thơ là cả một trời cảm xúc dạt dào, cả một nguồn cảm hoài lai láng về tình mẹ, về vầng trăng Việt Nam, về mảnh vườn, về con sông, thành phố, ruộng đồng: Bắc Ninh, Hà Nội, Huế, Sài Gòn...
Từ nơi đây, trên  quê người xứ lạ, nhà thơ chắt chiu từng hình ảnh, từng kỷ niệm để mà bâng khuâng, để mà hoài vọng: Từ hoài vọng đó nhà thơ ngồi soi rọi, nhìn vào tâm khảm để thấy, để biết mình có gì, còn gì và mong ước những gì.

Về Thơ Đạo, Tuệ Nga không đi tìm nguyên khởi của Đạo mà từ Đạo, chứng nghiệm lẽ đạo vào cuộc nhân sinh, vào nhân duyên nghiệp quả để “ngộ” lẽ vô thường, từ đó phóng suy tư vào cuộc sinh tồn, vào lẽ sắc không thanh thản.
Như hầu hết những người Việt Nam lưu vong tỵ nạn, chưa một lần về thăm lại quê hương. Quê hương từ ngày quay gót ra đi, đã bao lần ngoái nhìn về cố xứ, quê hương từ ngày “tiễn khách sầu xa quê”, “nhìn mây trời giăng mắc. Rừng xanh chắn nẻo về” hình như không bao giờ vơi nguôi trong đoái tưởng của nhà thơ.

Trong thi phẩm Từ Giòng Sông Trăng, tác giả đã lấy hình ảnh Rừng Xanh để ẩn dụ về một quê hương còn nhiều nghịch lý, bất trắc, còn những tráo trở, bất an, chưa đủ an toàn cho một ngày sum họp hoan ca của những người con lưu lạc. Trong tâm hồn nhà thơ, ước vọng một ngày về vẫn là “Nửa đời cơn mộng huyễn. Tuyết sương chắn nẻo về” (Vầng Trăng Cổ Độ), và cứ như thế quê hương và ngày về như một ray rứt, một ám ảnh không rời.
Băn khoăn với những gì có hôm qua, với những gì mất hôm nay, thời gian và lẽ biến thiên của cuộc nhân sinh tại thế - quê hương đã xa, tuổi trẻ đã mất, người Phật tử thuần thành Tuệ Nga quán triệt cái giả tạm, cái vô thường của cuộc nhân sinh, thơ không còn là tiếng buồn của muộn phiền, ủy mị. Nhà thơ nhìn lại cuộc đời, nhìn vào lẽ đạo để thấy một thực tại phản chiếu, để rồi thấy lòng thanh thoát, an nhiên tự tại, “bởi đã hiểu đời là quán tạm” trên “một chuyến xe đời”, “một vòng tử sinh”, một “bữa tiệc đủ đầy vị chua vị ngọt ”, và có đủ tiếng chim hót, có nắng ban mai - thuở rộn ràng của buổi đầu đời hoa mộng, cho đến ngày sau, chặng cuối, có tiếng vọng đại hồng chung ngân dài, gọi con người tìm về hài hòa an lạc...

Tuệ Nga đã có trên mười tập thơ xuất bản, trong đó tập SUỐI đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa của Văn Học Miền Nam năm 1974. Tác giả đã có hàng mấy chục bài thơ được phổ nhạc; từng cộng tác với nhiều tờ báo, tâïp san, tạp chí tại hải ngoại.
Có thể nói giới nữ-thi-nhân trong làng thơ Việt Nam cận đại, Tuệ Nga là một nhà thơ đã sống trọn cuộc đời với Thơ, cho Thơ và vì Thơ. Bà là một trong số ít ỏi nhà thơ nữ tiêu biểu trong làng thơ Việt Nam hải ngoại và trong nước hiện nay. Bà đã góp vào kho tàng Văn chương Nghệ thuật nước nhà những áng thơ, những tác phẩm có giá trị văn học nhất định.  

Song Nhị
San Jose, 10.2013

***


Wednesday, November 5, 2014

Một Mẩu Chuyện Bên Lề Lịch Sử.











Phật tử biểu tình chống đàn áp Phật giáo

    




 - Thầy Thích Giác Đức thời... trai trẻ

 


- Dân biểu Nguyễn Công Hoan đổ xăng và châm lửa thiêu sống HT Thích Quảng Đức. Bà Ngô Đình Nhu gọi là "nướng người". (Đón đọc một mẩu chuyện bên lề lịch sử (4).

1.
Năm 1963, trong cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chế độ Đệ nhất Cộng Hòa của TT Ngô Đình Diệm. Tại Sài Gòn, địa điểm tập họp là chùa Xá Lợi. Hàng ngày có hàng ngàn đến hàng chục ngàn Phật tử đến để nghe đại đức Thích Giác Đức, phát ngôn viên của Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo VN và là diễn giả hùng biện, hàng ngày đăng đàn kêu gọi Phật tử xuống đường rầm rộ lên án “chế độ Diệm-Nhu đàn áp Phật giáo”.

Năm đó gia đình tôi một tuần ba bốn ngày có mặt tham gia để nghe thầy Thích Giác Đức thuyết pháp. Bố tôi làm việc ở ngoại quốc không tham dự ngày nào. Tôi có mặt mỗi ngày vài giờ, không phải để tham gia biểu tình mà để nghe thầy thuyết giảng kêu gọi lật đổ chế độ. Mỗi đêm về nhà tôi đều có viết một ít dòng nhật ký ghi lại những điều nghe được và bày tỏ ý nghĩ của mình.

Tất cả các trang nhật ký đó có một nhận xét của riêng tôi, cho rằng miền Nam đang là một xã hội tự do, so với sự cai trị hà khắc của Cộng sản miền Bắc. Những biến động chính trị lúc bấy giờ đang xói mòn nền tảng ổn định của xã hội, của thể chế chính trị và làm lợi cho Cộng sản. Một người bạn học ở trọ tại nhà tôi, đọc được nhật ký đó phản đối tôi quyết liệt. Anh ta nói rằng tại tôi sống ở thủ đô (Sài Gòn) không về miền quê nên không thấy được người dân bị chèn ép như thế nào. Tôi nói - “tại mày chưa sống ngày nào với Cộng sản nên mày chưa thấy quan tài, chưa rơi nước mắt. Ở đây mày được ăn, được học, được tự do, muốn làm gì thì làm, kể cả chửi chế độ...”. Chúng tôi cãi nhau tung tóe cho tới ngày anh em TT Diệm bị giết, bà chị họ tôi ngồi khóc, bạn tôi lấy làm vui. Tôi buồn, cả nhà tôi buồn. Năm sau bạn tôi nhập ngũ, cuối cùng là Đại úy đại đội trưởng, đánh VC hăng hơn ai hết, đánh tới trận cuối ở Bình Long, trước khi rút về tản hàng ở Long Khánh.

2.
Tôi có một tuyện ngắn, tựa đề “Duyên Nợ Tiền Thân” đã đăng trên báo Chánh Đạo, số Xuân 1994 của nhà báo Nguyên Trung tại San Jose. Truyện này sau đó đăng trên báo điện tử “Thư Viện Hoa Sen” ở Paris, sau được phổ biến trên một số báo in và báo mạng khác.
Khoảng năm 1995-96 tôi gửi truyện ngắn này cho người cháu rể của tôi dạy học cùng trường với thầy Thích Giác Đức ở Boston, tiểu bang Massechussett. Cháu rể tôi trao truyện ngắn đó cho thầy Thích Giác Đức đọc. Đọc xong, thầy phê: Cải lương!! Khi đứa cháu kể tôi nghe, tôi mới nghĩ ra là nội dung truyện trùng hợp với hoàn cảnh của thầy, mà khi viết truyện đó tôi chưa hề biết gì về thầy cả. Sau đứa cháu cho biết thầy đã hoàn tục, đã lấy vợ, có con, sống đời cư sĩ. Tôi có gọi phone thăm hỏi và nói đôi điều ba chuyện với thầy, nhưng tuyệt nhiên tôi không đả động gì đến những chuyện xưa và chuyện nay của thầy. Vào những năm cuối thế kỷ trước (trước năm 2000), thầy có dịp sang San Jose dự đại hội Phật Giáo ở chùa An Lạc, thầy có gọi thăm tôi. Lúc đó không hiểu sao tôi không tìm đến chùa An Lạc gặp, thăm thầy, về sau nghĩ lại tôi ân hận.

Một chi tiết bên lề lịch sử của người thật việc thật có can dự vào một biến cố hệ trọng làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc, để miền Nam bị rơi vào vòng thống trị của chủ nghĩa Cộng sản, sau khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam bị đánh đổ, dẫn tới thảm họa 1975.
Đại đức Thích Giác Đức là một nhân vật nổi bật cùng với Phật giáo Ấn Quang chủ trương triệt hạ chế độ dẫn đến cái chết bi thảm của anh em TT Diệm, đã cho chúng tôi biết nỗi ân hận về sự sai lầm của thầy. Có lần thầy nói cứ mỗi năm đến ngày 2 tháng 11 thầy kêu vợ thầy làm mâm cỗ cúng giỗ và tưởng nhớ anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Thầy từng nói: “Tôi nhận một phần trách nhiệm về cái chết của TT Diệm và ông Ngô Đình Nhu”.

Tôi viết ra những dòng này khi thầy Thích Giác Đức và gia đình đang sinh sống ở Boston. Tôi mong thầy đọc được bài viết ngắn này. Và tôi sẽ thêm vào trong cuốn “Nửa Thế Kỷ Việt Nam”, nếu có dịp in lại lần thứ ba.

Song Nhị
San Jose, ngày 3 tháng 11- 2014

***

3.
Truyện ngắn “Duyên Nợ Tiền Thân”

Đặng Tâm là đứa con thứ sáu trong một gia đình có tám anh em. Tâm xuất gia từ năm lên tám tuổi với hòa Thượng Tuệ Giác, một vị cao tăng tại chùa Long Thọ. Năm ba mươi tuổi, nghĩa là hai mươi năm sau, kể từ ngày Đặng Tâm theo thầy học đạo, chàng nổi tiếng là một sa môn uyên bác về kinh điển của nhà Phật và là người có đức độ khó ai bì kịp.
Từ ngày quy y, Đặng Tâm có pháp danh là Pháp Không. Sư Pháp Không có dáng người thon cao, vẻ mặt quắc thước, sáng sủa. Đôi mắt của nhà sư như ẩn chứa một cái gì vừa ấm áp, vừa mênh mông huyền diệu. Giọng nói trầm trầm, truyền cảm làm cho người đối diện phải đem lòng mến mộ. 
Một lần, sau buổi thuyết pháp về đề tài “luật nhân quả”, thầy về tới tăng phòng thì gặp một người con gái đứng chờ trước cửa. Người thiếu nữ ấy khoảng hai mươi tuổi, ăn mặc theo lối Âu, gương mặt đẹp, sắc sảo, quý phái. Vừa thấy thầy, thiếu nữ chắp tay, cúi đầu:
- Bạch thầy, xin thầy hoan hỉ cho con được vấn đạo.
- Mô Phật, nếu câu hỏi của tín nữ thuộc lãnh vực hiểu biết của bần tăng, bần tăng xin sẵn lòng.

Thiếu nữ cung kính cúi đầu:
- Bạch thầy, theo như bài luật nhân quả mà thầy vừa thuyết giảng, con thấy không phù hợp với những gì đang diễn ra trong xã hội hôm nay. Như kẻ hiền lành thì lại bị đói khổ, bị áp bức.  Kẻ độc ác, gian manh thì lại được giàu có, uy quyền. Người lương thiện thì chết yểu, kẻ hung tàn lại sống lâu. Nếu có luật nhân quả sao lại còn những trái ngược đó?

Sư Pháp Không chậm rãi trả lời:
- Nhân quả là gọi tắt của Nhân Duyên Quả Báo. Nhân Duyên có hòa hợp mới sinh ra Quả. Ví như hạt lúa là Nhân mà hợp với đất, nước, phân bón là Duyên mà sinh ra cây lúa. Về phương diện nhân sinh, người có Nhân từ kiếp trước, hiện tại mới gặp Duyên mà sinh ra Quả. Có người kiếp trước đã gieo Nhân mà mãi đến đời sau, đời sau nữa mới gặp Duyên để thành ra Quả. Bởi lẽ ấy nên có người đời này tu nhân tích đức nhưng lại bị tai họa. Người khác, đời này ác độc, hung tàn mà lại được hưởng giàu sang, quyền quý.
Người tín nữ vẫn tỏ vẻ chưa hài lòng với lời giải thích của sư Pháp Không. Nàng nhỏ nhẹ:
- Bạch Thầy, như vậy là luật nhân quả cũng có kẽ hở? 

Sư Pháp Không vẫn ôn tồn:
- Bởi vì người đời không rõ lẽ ác báo và phúc báo. Nhân Ác trồng ở kiếp này chưa đủ thời gian để thành Quả Ác. Nhân Lành gieo ở kiếp trước chưa đủ thời gian để thành Quả Phước cho đời hiện tại. Tất cả đều là do vòng chuyển hóa của luân hồi định nghiệp. Không có kẻ hở như luật pháp của thế gian. Bánh xe quay nhanh hay chậm thì chỗ ráp nối đến chậm hay nhanh, tùy thuộc vào vòng quay, vào nội tại của người đạp xe. Bánh xe pháp luân tùy thuộc vào Nhân Duyên. Người thanh thản đạp xe chậm rãi, kẻ âu lo đạp xe vội vàng. Người thiện nhiều, nghiệp báo chậm, kẻ ác hung nghiệp báo nhanh. Chậm hay nhanh là do Nhân Duyên. Lành dữ cũng do Nhân Duyên. Nghiệp báo cũng thế. Tựu trung không sớm thì muộn: Nhân nào Quả ấy.
Thiếu nữ ngước lên nhìn nhà sư, hỏi tiếp:
- Bạch thầy, thế nào là lòng từ bi?
- Từ bi là tình thương. Bất cứ là thứ tình thương nào mà người thương biết quên mình, không đòi hỏi một tình thương được trả lại. Từ bi là một thứ vị tha nhân, không vị kỷ, là một thứ cho mà không nhận.
- Bạch thầy, thế nào là cho? Thế nào là nhận?
- Cho là “xả”, nhận là “thọ”. Cho là “vô”, nhận là “hữu”. Cho là vì người, nhận là vì ta.
- Như vậy một người nữ yêu một người nam là “cho” hay là “nhận”.
- Đó là nhận.
- Tại sao?
- Yêu người muốn được người yêu lại, đó là vì yêu mình chứ không phải yêu người.
Vậy thế nào mới được gọi là “yêu người”?
- Hy sinh, quên mình.
- Khó quá.
- Khó, dễ tại tâm sanh. Không khó, không dễ thì tâm diệt.
- Tâm diệt thì được gì?
- Tịnh lạc.
- Thưa thầy, muốn “lạc” mà không muốn “tịnh” được không?
- Muốn có gió mát mà không muốn cành lá lay động, đó là ảo tưởng.
- Tình yêu có tịnh lạc không, thưa thầ
y? 
- Có và không?
- Xin thầy cho thí dụ.
- Nước biển mặn là do chất muối. Muối thành do nước biển. Tình yêu là “dụng”, còn tịnh lạc là “thể”. Bản chất của “dụng” là động. Bản chất của “thể” là tịnh. Đã động thì bất tịnh. Động thì không có Tịnh Lạc.
- Nói như vậy chẳng khác nào khuyên người ta đừng yêu nhau. Nòi giống loài người làm sao tồn tại và phát triển để phụng sự Phật pháp.
- Không phải con người phụng sự Phật pháp, vì Phật pháp vốn là không có. Nói Phật pháp như một thể “hữu” để cho con người dễ hiểu. Đúng ra, Phật pháp phụng sự con người. Phật pháp là phương tiện đưa con người đến sự giải thoát. Khi cứu cánh ấy đã đạt đến thì phương tiện kia không còn.
Người thiếu nữ đứng khoanh tay, xưng tên là Hoàng Bích Vân, nhìn nhà sư rồi nói thật nhỏ:
- Dù sao thì... “em” vẫn muốn cái “tịnh lạc” kia chính là cái “tình yêu” mà em đang mơ ước kiếm tìm.
Sư Pháp Không chắp tay:
- Mô Phật, điều đó ngoài sự hiểu biết của bần tăng. Xin từ biệt.
Nhà sư quay lưng bước về phòng. Bích Vân gọi với theo:
- Thầy..! Thầy!..
Nhưng cánh cửa sau lưng nhà sư đã đóng lại.

***
Hòa thượng Tuệ Giác nhìn môn đệ đệ của mình là sa môn Pháp Không rồi nói:
- Thầy muốn con hoàn tục.
Sư Pháp Không giật mình, sợ hãi:
- Bạch sư phụ xin minh xét cho con.
Hòa thượng Tuệ Giác vẫn giọng ôn tồn. Sư Pháp Không nước mắt đã ràn rụa, nhạt nhòa, quỳ xuống lạy thầy:
- Xin sư phụ hỉ xả. Đừng đuổi con. Con đã nguyện trọn đời nương thân chốn thiền môn.
- Thầy đã nói hết lời rồi. Đó là nghiệp quả của con. Kiếp trước con đã hẹn hò với người ta nên đời này con phải trả, phải làm tròn lời hẹn ước.
Sư Pháp Không năn nỉ:
- Bạch sư phụ, tất cả không phải vì con. Xin sư phụ cho con được nương thân dưới bóng từ bi của sư phụ, của Phật pháp.
- Đừng, con đừng nói thêm nữa. Khi nào con dứt căn duyên, làm xong lời thề ước với người ta, con hãy trở về đây. Còn bây giờ... con về phòng thu xếp. Đừng lại từ giã thầy. Con đi đi. Đóng cửa phòng lại cho thầy.
Nói xong, Hòa thượng kiết già, mắt nhắm nghiền, người cứng như pho tượng. Biết không còn có thể thưa gửi được gì thêm, sư Pháp Không lạy thầy rồi bước ra ngoài, vừa đi vừa khóc.
    
**
Thấm thoát đã hai năm, thời gian đi nhanh quá. Đặng Tâm ở một mình trong một am nhỏ trên mảnh đất của tổ phụ. Chàng vẫn ăn chay, giữ giới, mặc dù giờ đây chàng đã mặc áo đời. Nhiều người trước đây quen biết với gia đình chàng, thấy Đặng Tâm hoàn tục, có ý muốn gả con gái cho chàng. Nhưng chàng đều từ chối. Những lúc ngồi một mình chàng buồn vời vợi. Bạn bè khuyên chàng nên lập gia đình, chàng cự tuyệt. Đặng Tâm muốn được tâm hồn thảnh thơi nhưng đã bị những cô gái quanh vùng đến quấy rầy. Có người đến nghe thầy giảng kinh. Có kẻ đến xin thầy học đàn Tây Ban Cầm. Lại có cô xin được đến nấu cơm, giặt giũ săn sóc... Đặng Tâm khổ sở lắm.

Rồi vào một buổi sáng, Đặng Tâm thay xong y phục, định đến thăm một người bạn thì Bích Vân, cô gái “vấn đạo” cách đây hai năm đột ngột xuất hiện. Vừa nhìn thấy thầy, cô chợt òa lên khóc. 
Đặng Tâm lo lắng: cất tiếng hỏi:
- Cô có gì buồn lắm phải không?
Bích Vân càng khóc lớn hơn, Đặng Tâm nói tiếp:
- Ở đây cô không nên làm thế. Nếu người ta hiểu lầm thì thật là tai hại cho tôi.
Bích Vân nức nở:
- Em đã tìm thầy suốt mấy năm, hôm nay mới gặp. Bây giờ thầy đã hoàn tục, còn sợ gì người ta hiểu lầm nữa.
Đặng Tâm ngạc nhiên:
- Cô tìm tôi? Nhưng để làm gì? 
Bích Vân lau nước mắt. Đôi mắt đẹp và buồn ngước nhìn Đặng Tâm:
- Em... em... không thể sống xa thầy.
Đặng Tâm cố nén cơn giận dữ vừa òa đến:
- Cô có biết vì cô mà tôi phải xuất tự không?
Bích Vân thổn thức:
- Dạ em biết.
- Đã biết mà cô còn tới tìm tôi?
- Em tìm... anh để nói cho anh hay là...

Đặng Tâm xoa tay:
- Cô đừng nói gì cả. Điều mà cô sắp nói không ý nghĩa gì. Không ích lợi gì cho cô và cho tôi. Cũng vì điều cô sắp nói, cô đã làm mà thầy tôi bắt tôi phải hoàn tục. Hai mươi năm tu hành, phút chốc vì cô mà phải uổng phí.
- Giờ đây anh đã về nhà. Cuộc sống của anh đã khác, không lẽ cứ như thế này mãi. Gia đình em giàu có. Nếu chúng ta kết hôn, anh sẽ không còn vất vả nữa.
Đặng Tâm thở dài chán nản:
- Cô vẫn giữ mãi ý định kỳ lạ đó? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến tình ái ở cuộc đời này. Tôi tha thiết xin cô hãy bình tâm trở lại, nếu có thể chúng ta sẽ làm bạn, chứ không thể là vợ chồng.
Bích Vân gắng gượng hỏi:
- Có ai cấm anh lập gia đình đâu.
- Tâm ý của tôi không cho phép.

Không lay chuyển được lòng dạ sắt đá của Đặng Tâm, Bích Vân vô cùng tuyệt vọng, nàng đứng lên quay gót, bước đi như một kẻ không hồn.
Biết không thể ở đây được, Đặng Tâm đóng cửa am, đi tìm một nơi nào đó để được an thân, bình tâm mà tu hành. Trên đường đi, một hôm chàng ghé vào chùa Bửu Tự vấn an sư thúc là Hòa thựơng Pháp Nhãn. Sau khi kể sự việc phải hoàn tục của mình, Đặng Tâm thỉnh cầu sư thúc xin với sư phụ của chàng để trở về chùa cũ. Hòa Thượng ngồi tịnh một giờ lâu rồi mở mắt nhìn Đặng Tâm:
- Oan nghiệt! Đó là oan nghiệt, là tiền căn.

Đặng Tâm xin sư thúc chỉ rõ. Hòa thượng Pháp Nhãn chậm rãi nói:
- Ngươi đã có ấn chứng, sao không dùng mà soi lại tiền kiếp của mình.
Đặng Tâm như sực tỉnh, nhưng chàng vẫn thưa:
- Nhưng còn cô gái Bích Vân, thưa sư thúc.
- Cứ ngồi định tâm, thầy sẽ giúp cho.

Chàng ngồi vào nệm cỏ, buông xả hết mọi ưu tư, tạp tưởng. Một lúc, Đặng Tâm thấy một luồng thanh điển đưa chàng đến một nơi xa lạ. Đăng Tâm thấy mình là một thầy tu, đem lòng yêu thương một thiếu nữ con nhà giàu có. Chàng trốn chùa về ở với người con gái đó. Được vài năm, hạnh phúc đang tràn đầy thì người con gái đó chết. Chàng quá thương tiếc, thề suốt đời ở vậy, không tục huyền. Người đó là Bích Vân kiếp này.

Khi biết rõ tiền căn duyên nợ, chàng thở dài, mở mắt. Vị sư thúc của chàng an ủi:
- Bây giờ, một là con lấy nàng, hai là con phải ở vậy cho tới suốt đời. Nếu lấy nàng, trả hết nợ tiền căn con mới được quy tự, tiếp tục tu hành. Nếu không, con phải sống một cuộc đời nửa tăng nửa tục. Kiếp sau nữa con vẫn phải tái sanh mà kết duyên tơ tóc với nàng. Sẽ cứ như vậy mãi. Con đường giải thoát của con còn bất tận.
Đặng Tâm phiền muộn vô cùng.

Từ đó thỉnh thoảng người ta thấy chàng thanh niên tuấn tú ấy xuất hiện, nay tới chùa này, mai tới chùa khác để “soi căn” cho những bá tánh thỉnh cầu. Trong lời “soi căn”, chàng dùng những ẩn ngữ sâu xa, diễn tả bằng thể văn vần song thất lục bát. Lời ngâm đều, chậm, mang những dư âm buồn man mác xa xôi. 

Cũng vì căn duyên tiền định, Bích Vân vẫn lâu lâu tìm gặp Đặng Tâm một lần, dù chỉ để nhìn nhau một thoáng, nói vài câu van xin và nghe mấy lời cự tuyệt. Nhưng hình ảnh cô gái diễm kiều này đã dần dần len vào tâm tưởng Đặng Tâm. Lần gặp lại Bích Vân mới đây chàng đã có những lời lẽ thân tình gần gũi hơn. Khoảng cách biệt đã dần dần được thu hẹp, để xích lại lằn ranh kết nối của cuộc hẹn hò duyên nợ tiền thân. 
song nhị



Sunday, October 19, 2014

Túp Lều Hạnh Phúc

















           

Người Gác Tù Và Điều
Hạnh Phúc Ngộ Chứng


Đoàn người trở về
từ rừng núi
từ vực sâu
từ hồng hoang
từ bán khai man rợ

Họ tìm thấy ở đó
giữa rẫy nương bìa rừng
một mái nhà nền đất mái tranh 
mấy dãy bàn ọp ẹp
từng hàng ghế chông chênh

Đời bỗng dưng rộn ràng tở mở
xôn xao những cuối tuần 
người vợ gặp lại chồng
đứa con gặp lại cha
những đứa bé lần đầu gặp mặt bố
những bà mẹ lưng còng tóc úa
tìm gặp lại thằng con
những tiếng nói nấc nghẹn lưng chừng
những dòng nước mắt tuôn
từng trái tim phập phồng òa vỡ

Ở đó
những cặp mắt trao nhau
ân tình bốc lửa
có những cái chạm tay
cảm xúc rung lên từng nhịp thở
theo luồng hơi
tóc bay

Rạo rực hơn phút đầu đời luyến ái

những đôi vợ chồng hơn mười năm gặp lại
ba mươi phút thăm nuôi
mười năm chờ đợi
một phút giây
một đời người
nơi nhà thăm nuôi
- túp lều hạnh phúc!

Ở đó
có tiếng cười hòa trong tiếng khóc
có hũ muối. bọc đường. viên thuốc
có ký gạo. gói mì. bịch ớt. hũ tiêu
từ tấm lòng bà mẹ chắt chiu
từ trái tim người vợ hiền
tận tụy
thương yêu
tháng ngày dành dụm

Ở đó
có phút giã từ bịn rịn
có phút chia tay không bến hẹn tương phùng
người khuất mờ sau lớp sóng đại dương
người vĩnh viễn ven rừng quê ở lại

Ở đó
người gác tù tự hỏi
trăn trở
nghĩ suy
nghĩ về từng khẩu hiệu huênh hoang
ba đời cố nông
ba đời ở đợ
Vinh quang trong mảnh áo vàng
tiếp đời cùng khổ
Không nghĩa phu thê
Không tình phụ tử
Đạo đức nhân luân vô sản cả linh hồn

Ở đó
người gác tù nhìn thấy giả chân
bỗng ngộ chứng ra điều hạnh phúc.

song nhị
(trích “Tiếng Hót Loài Chim Di”)




Saturday, August 9, 2014

THƯ NGỎ - NGUỒN Magazine





              
                                                                                             


















Ngày 02 tháng 8 năm 2014                 
                                   
Kính thưa quý ân nhân, bạn đọc, tác giả, văn thi hữu và thân hữu, 

Để chuẩn bị cho Nguồn số Xuân Ất Mùi 2015, đánh dấu 40 năm Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, đất nước bị đặt dưới ách thống trị của thể chế độc tài Cộng Sản. Hơn hai triệu người Việt phải tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, sống khắp nơi trên lãnh thổ các quốc gia ở hải ngoại, Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn và tạp chí NGUỒN quyết định sẽ ấn hành số báo đặc biệt để đánh dấu chặng đường 40 năm lưu cư nơi đất khách quê người; 40 năm, sau cơn ác mộng hãi hùng vượt biển, vượt biên, tù tội… thế hệ Thuyền Nhân, H.O giờ đây đã cùng với các thế hệ con cháu chúng ta gặt hái được những thành quả lớn lao, ngoài sự mong muốn từ những ngày đầu bỏ nước ra đi.  
Để có thể hoàn thành mỹ mãn Nguồn/ Xuân 2015 trong Hành Trình Văn Học và Lịch Sử Của 40 Năm Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại, vươn dậy với thành tựu từ hai bàn tay trắng… ngỏ hầu lưu lại cho văn học mai sau những tài liệu sống của hôm nay, chúng tôi mạnh dạn gởi thư này đến quý vị và bạn đọc.  

Chủ đề của Nguồn Xuân Ất Mùi 2015, do đó là một đề tài phong phú, nhằm ghi lại những bước đi, ước vọng và thành quả của mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi đoàn thể, mỗi ngành nghề, mỗi lãnh vực của cộng đồng chúng ta trong 40 năm qua.
Độc giả và quý văn thi hữu có thể khai thác mọi đề tài, trình bày hành trình, kỷ niệm và thành tựu của gia đình, của chính mình và thành đạt của các con cháu, cùng cảm nghĩ về những Mất/Được trong đời sống nơi xứ lạ quê người, dù chúng ta đã là công dân của xứ sở quê hương thứ hai Tự do, Sung túc, Hùng mạnh và Vĩ đại này.

Là một Tổ chức Bất Vụ Lợi,  chúng tôi kêu gọi lòng hảo tâm của quý ân nhân, bạn đọc và quý văn thi hữu yểm trợ bài vở cũng như ấn phí cho số báo này. Mọi sự yểm trợ của quý vị (từ 80 USD trở lên) chúng tôi sẽ gửi biên nhận để quý vị trừ thuế theo quy định của Sở Thuế Liên Bang IRS.
Xin quý tác giả, ân nhân bạn đọc gửi bài vở và phiếu yểm trợ cho Ban Biên Tập hạn chót ngày 15 tháng 11, 2014.  Báo sẽ ấn hành vào dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015.

Xin trân trọng cảm ơn và kính chào quý vị.
Kính chúc quý vị cùng thân quyến an khang, may lành và thịnh vượng.


Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn
Ban Biên Tập NGUỒN

 

PHIẾU YỂM TRỢ


Tạp Chí NGUỒN Xuân Ất Mùi 2015

Đáp ứng lời kêu gọi của Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn, tôi đồng ý yểm trợ việc ấn hành Tạp chí Nguồn số Xuân 2015 và đóng góp:
  10.USD đặt mua một số báo (+ $2 cước phí)
   ($…..............……) mua ủng hộ  (…...........  số)
   Mua ủng hộ  từ  2  quyển  trở lên, miễn cước phí.  
  ủng hộ với tư cách mạnh thường quân ($………....…..)

Yêu cầu gửi báo về địa chỉ sau đây:

Ông/Bà : ............................................................................................................................................................
Địa chỉ : .............................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................................................        

------------------------------------------------------------------
CSTV CỘI NGUỒN/ NGUỒN Magazine
P.O.Box 3648  San Jose, CA 95156-3648 USA
E-mail: tapchinguon@yahoo.com - 

Ngân phiếu xin ghi: CSTV Coi Nguon
Gửi về địa chỉ: Tap Chi NGUON
P. O. Box 3648 - San Jose, CA 95156-3648 - USA




Wednesday, July 2, 2014

Nửa Thế Kỷ Việt Nam - 50 Năm Những Biến Cố Lịch Sử
























Và Những Thảm Họa Trên Đất Nước Hôm Nay
 
Năm mươi năm nhìn lại - kể từ cuộc cách mạng tháng tám 1945, cũng là năm thập kỷ, từ 50s đến 90s. Có thể nói chính xác hơn, kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930, ngày Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng sản Đông Dương, Việt Nam bước vào những thời kỳ bi thảm, đẩy đất nước và dân tộc vào cảnh ngộ bất hạnh nhất trong suốt dọc dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Năm mươi năm, có thể kể những dấu mốc biến cố trọng đại sau đây gắn liền với vận mệnh đất nước và dân tộc:
- Cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945
- Cuộc chiến tranh Việt Pháp 1946 – 1954
- Việt Nam chia đôi ở vĩ tuyến 17.
* Miền Nam theo chế độ Cộng hòa;
* Miền Bắc theo chế độ độc tài cộng sản, chư hầu của Đệ Tam quốc tế.
* Cuộc nội chiến Bắc Nam 1955 – 1975
- Biến cố 30 tháng Tư 1975, kết thúc cuộc chiến, cộng sản thống trị cả nước.

Năm mươi năm với các biến cố giây chuyền đó, chủ nghĩa cộng sản đã đưa tới hậu quả tai hại của ngày hôm nay: đất nước đang đứng trước họa ngoại xâm. Trung Cộng đã ngang nhiên xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, mất đất, mất biển. Nhân dân bị cai trị bởi một chế độ độc đảng, không có dân chủ, tự do. Nhân quyền, nhân phẩm bị chà đạp. Tình tự dân tộc chia cắt, luân lý đạo đức suy đồi…  

Thời cuộc cuốn hút xô đẩy, năm mươi năm tôi phiêu bạt từ đầu non đến cuối biển. Ngày rời bỏ xóm làng trốn chạy, sau Cải Cách Ruộng đất, khi đứng trên đỉnh Trường Sơn quay lưng nhìn về phía sau, một khoảng trời mênh mông, mờ mịt, dù biết trở về nơi đó là chết, lòng tôi vẫn không khỏi bịn rịn thương nhớ quê nhà, nơi chôn nhau cắt rốn. Hơn năm mươi năm sau, trôi giạt đến cuối bờ Thái Bình dương, cách xa quê hương nửa vòng trái đất, tôi ngồi đây, ôn lại đời mình, nhìn lại một chặng đường lịch sử nửa thế kỷ Việt Nam, với Những Biến Cố Lịch Sử và Những Thảm Họa Trên Đất Nước hôm nay.

Đi tìm nguyên nhân đưa đến cho đất nước, dân tộc những tai ương, hoạn nạn trong nửa thế kỷ đau thương đó, xin thử đưa ra một ý kiến riêng, rất riêng, đúng hay sai xin dành cho các nhà nghiên cứu, các bậc thức giả nhận định.

Tôi đồng ý với những ai cho rằng hai cuộc “kháng chiến trường kỳ chống Pháp” và “chống Mỹ cứu nước” kết thúc, chiến thắng đó làm vang dội toàn cầu. Người Cộng sản, dù là chủ nghĩa vô thần, họ gọi đó là “cuộc kháng chiến thần thánh”. Nhìn lại thực trạng đất nước sau khi chiến tranh kết thúc, sau ngày 30. 4. 1975 đến nay, người ta có thể nhận thấy và kết luận: Cuộc chiến tranh chống Pháp là không cần thiết và cuộc chiến tranh “chống Mỹ” là một thảm họa.
Không ai có thể nói khác đi và người cộng sản, nếu họ thành tâm không thể phủ nhận điều đó. Điều hiển nhiên, khi Hà Nội phát động cuộc chiến tranh “Giải Phóng Dân tộc” bằng những luận điệu giả trá, lừa bịp người dân, xô đẩy tuổi trẻ VN vào lò lửa hận là mặc nhiên mở đầu cuộc nội chiến Bắc-Nam, nồi da xáo thịt. Tại sao họ không làm một cái gì khác hơn, tránh kẽ hở cho ngoại bang can thiệp, để khỏi phí phạm xương máu và làm tiêu hao tài sản tinh thần cũng như cơ sở vật chất của đất nước? Tôi biết câu hỏi này có vẻ rất ngây thơ đối với người CS. Bởi vì mục tiêu tối hậu của tập đoàn lãnh đạo Hà Nội là áp đặt chủ nghĩa Cộng sản, thống trị toàn cõi Việt Nam.

Để thấu đáo ngọn ngành, xin thử nhìn lại một chặng đường lịch sử.
Vào các thế kỷ 17, 18 và 19, suốt hơn ba trăm năm đó, có ba thế lực đế quốc hùng mạnh tràn đến khắp các phần đất năm châu xâm lăng, chiếm cứ các quốc gia làm thuộc địa. Ba đế quốc đó là Anh, Pháp và Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha. Việt Nam là một trong những mục tiêu chiếm đóng.

Chủ nghĩa Thực dân đã làm điêu đứng, gây bất hạnh cho nhân loại trong suốt hơn ba thế kỷ. Mở đầu, đế quốc Anh, từ năm 1610 đến 1763 đã chiếm đóng và thiết lập 13 thuộc địa ở Bắc Mỹ và vùng phía Nam gồm Úc, Tân Tây Lan. Canada là vùng đất béo bở mà Anh giành với Pháp, sau khi Quebec đã bị Pháp chiếm từ năm 1608.

Dưới chiêu bài giao lưu thương mại, chủ nghĩa thuộc địa của Đế quốc Anh tràn sang châu Á. Từ cuối năm 1600 đến năm 1874 người Anh thiết lập xong chế độ thuộc địa tại Ấn Độ. Trong 200 năm Ấn độ chịu dưới sự cai trị của thực dân Anh. Nhiều quốc gia khác của châu Á lần lượt bị đế quốc Anh độ hộ: Tích Lan (Siri Lanka) từng là thuộc địa của Bồ Đào Nha từ thế kỷ 16 đến năm 1815 là thuộc địa của Anh, năm 1948 được độc lập. Miến Điện – Burma là thuộc địa của Anh, tên gọi do người Anh đặt. Myanma tên mới, độc lập năm 1948.

Trung Hoa bị đế quốc Anh đô hộ từ năm 1842, Hongkong là nhượng địa của Anh cho tới năm 1997 mới được trả lại cho Trung Quốc, dưới quy chế Hongkong tự trị.  
Mã Lai là thuộc địa của Anh trong suốt hai thế kỷ 18 và 19 đến năm 1957 được độc lập dưới quy chế Liên Bang Mã lai Á (Multi-Racial Federation of Malaysia).
Singapore, Bornéo thuộc địa của Anh cũng đều được trả lại chủ quyền.
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là đế quốc tiên phong đi “khám phá tân thế giới” và chiếm cứ thuộc địa sớm nhất. Ma Cao bị Bồ chiếm đóng rất sớm, từ năm 1415, mãi tới năm 1999 được trao trả chủ quyền cho Trung quốc. Đây là thuộc địa cuối cùng, đánh dấu sự cáo chung của đế quốc hoàn vũ Portugal kể từ năm 1571, khi một đường dây đã nối liền từ Lisbon đến Nagasaki, từ mũi Ảo Vọng Giác (Cape of Good Hope) đến Brazil.
Sau Bồ Đào Nha, Pháp là đế quốc vươn bàn tay xâm lược đến châu Mỹ, châu Phi và châu Á từ cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17. Năm 1555 Brazil đã trở thành thuộc địa của Pháp. Năm 1562 đến lượt Rio de Janeiro, rồi Quebec, Montreal, Canada xuống tới Louisiana. Sang tận châu Phi, Tân Thế giới (New World), Sénégal, Maroc, Algerie, Madagascar, vùng Caribean, Lebanon Đông Á.

Tại Đông Nam Á, năm 1863, Cam Bốt (Cambodge/ Cambodia) dưới triều vua Norodom đã bị đặt dưới quyền “bảo hộ” của Pháp. Từ năm 1862, Pháp chiếm sáu tỉnh miền Tây, Nam Bộ (Cochinchina) của VN làm thuộc địa. Đến năm 1887 Pháp thành lập Liên bang Đông Dương bao gồm Cam Bốt và Việt Nam (gồm Bắc bộ (Tonkin), Trung bộ (Annam) và Nam Bộ (Cochinchina). Năm 1893 thêm Lào “gia nhập”.

Năm 1949 Việt Nam được Pháp trao trả độc lập cho chính phủ Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Bảo Đại. Nếu không có Việt Minh, không có CS thì VN cũng độc lập êm thắm như các quốc gia khác, đã tránh được hai cuộc chiến tranh khốc liệt.

Qua những sự kiện lịch sử này người ta nhận thấy sau Thế chiến thứ II, khi chủ nghĩa Phát-xít tan rã, Liên Hiệp Quốc được thành lập, các quốc gia nhỏ bắt đầu ý thức được quyền làm chủ vận mệnh đất nước - một sự trở mình thức tỉnh sau hàng trăm năm phản kháng âm ỉ thầm lặng. Chủ nghĩa thực dân cũng bắt đầu thoái trào từ đó.
Xung quanh Việt Nam, những nước như Tích Lan, Miến Điện, Mã Lai, và xa hơn như Iran, Bangladesh, Philippines (thuộc địa của Tây Ban Nha từ ngày 13 tháng 2 năm 1565, rồi thuộc địa Mỹ từ ngày 14 tháng 8 năm 1898) đều được trao trả độc lập mà không phải tốn một giọt máu. Vậy thì tại sao? Căn nguyên nào đã khiến Việt Nam phải lao vào những cuộc chiến tranh khốc liệt lâu dài, tổn hại đến như thế?

Chúng ta thử đặt những câu hỏi để tự thân những câu hỏi đó sẽ cho chúng ta câu trả lời. Chắc chắn sẽ khó có được một ý kiến chung cho mỗi nhận thức, nhưng muốn có được một kết luận vô tư, chính mình phải vô tư, thành thật với mình. Khi nhìn thấy một ngọn đèn thắp lên trong màn đêm mù mịt, không thể không nhìn nhận đó là một điểm sáng. Vậy thì giả thử:
Nếu như ông Hồ Chí Minh không đi “cứu nước” theo con đường Đệ Tam Quốc tế. Nếu như ông HCM không là đệ tử của Lenin và Mao Trạch Đông. Nếu như hang Pắc Bó ngày nay không có suối Lenin và núi Karl Marx. Nếu như không có Hiệp định Sơ Bộ ngày 6. 3. 1946, mà chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ký với Pháp để cho quân đội Pháp được trở lại Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch) nhằm cô lập và làm suy yếu các đảng phái Quốc gia. Và nếu “con đường cứu nước” mà ông HCM lựa chọn không phải là con đường áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên trên hơn ba mươi triệu người dân Việt lúc bấy giờ thì chắc chắn không có hai cuộc “chiến tranh thần thánh” 1946 - 1954 và 1955 - 1975. Đất nước, dân tộc Việt Nam không phải chịu nửa thế kỷ thảm họa ghê gớm kinh thiên động địa, làm chấn động lương tri nhân loại.

Và như vậy đã không có một bộ phận hơn ba triệu người Việt phải tách rời khỏi cộng đồng dân tộc sống rải rác khắp năm châu, như một thứ người dân mất nước. Và giờ đây tôi và gia đình tôi, gia đình quý vị đã không có mặt trên đất nước Hoa Kỳ, trên nước Úc, nước Đức, nước Pháp, Canada, Tân Tây lan, Hòa Lan, Na Uy, Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch, Á Căn Đình... Tôi đã chẳng có gì để kể lể dông dài trong tập sách này.

Nhưng tất cả chữ “Nếu” kia chỉ là những giả thuyết không tưởng. Tất cả đã diễn ra ngược lại: 
Ngày 3. 2. 1930, ông HCM và các đồng chí của ông đã thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương. Việt Minh đã cướp chính quyền. Nhiều nhà ái quốc đã bị Việt Minh thủ tiêu, giết hại. Chiến tranh Việt Pháp lần thứ hai bùng nổ ngày 19. 12. 1946. Hiệp định Geneve 20. 7. 1954 chia đôi đất nước. Hai triệu người bỏ miền Bắc vào Nam lựa chọn thể chế tự do. Cuộc nội chiến Bắc Nam, 20 năm núi xương sông máu 1955 - 1975 kết thúc. Đất nước hòa bình thống nhất, nhưng tình tự dân tộc lại phân hóa chia rẽ, ngăn cách hơn bao giờ hết.

Tất cả chỉ vì sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản, thay thế chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa Phát xít để tiếp tục bức hại con người; để một phần nhân loại tiếp tục làm thân trâu ngựa... Cho đến nay dân tộc Việt Nam vẫn là nạn nhân của chủ nghĩa phi nhân bản này.

Nói cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” là một thảm họa, không phải là bịa đặt, ngoa ngôn. Xin hãy nhìn vào những con số – những con số được đưa ra sau khi cuộc chiến kết thúc, khiến dư luận không khỏi kinh ngạc về thảm họa của cuộc chiến này. Chỉ tính riêng người và của đổ vào cho cuộc xung đột đẫm máu giữa hai phe Quốc Cộng, người ta thấy những con số như sau:
- Có 3,74 triệu lượt người Mỹ đã chiến đấu ở Việt Nam. 
- Tính đến tháng 8. 1967, số quân đội Mỹ có mặt tại miền Nam Việt Nam lên tới 525,000 người.
 - Theo ước tính của giới tình báo VNCH và Hoa Kỳ kể từ đầu năm 1973 đến tháng 3/1975, Hà Nội điều động vào miền Nam Việt Nam khoảng 250.000 quân, 1.349.000 tấn quân bị, thiết bị và đạn dược.
Ước tính của Đại tá Mỹ hồi hưu Eugene H. Grayson, Jr., quân số Bắc Việt ở trong lãnh thổ và dọc theo biên giới VNCH cho đến cuối năm 1974 là 550.000 người.
- Tổng số quân cộng sản sử dụng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh là 560.000 người. 4000 xe tăng và 420 khẩu pháo (trang 203)
- Mức tổn thất và chiến phí phía Mỹ được ước tính: - 8.612 phi cơ đủ loại bị tiêu huỷ, gồm 3.744 có cánh và 4.868 trực thăng, khoảng $12 tỉ Mỹ kim. - 7,35 triệu tấn bom, gấp đôi khối lượng sử dụng trong Thế Chiến Thứ II. Tổn phí $7 tỉ. - Tổn phí về đạn dược: $35 tỉ. - Tổn phí về vũ khí nặng như tăng, pháo Howitzers: nhiều tỉ đô la. - Số nhiên liệu sử dụng mỗi ngày là 1 triệu tấn.
Theo ước tính của James A. Donovan, tổng số chiến phí là $108,6 tỉ, gồm $97,7 tỉ cho Việt Nam và $10.7 tỉ cho Lào và Căm Bốt. Theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird, tổng chiến phí là $236 tỉ, tức $100 tỉ lớn hơn ước tính của chính phủ. (trang 223)

Tổn thất nhân mạng trong cuộc chiến
Phía VNCH và Hoa Kỳ:
Tử trận: VNCH trên 200.000; Mỹ 58.000 
Thương binh: VNCH khoảng 600.000 ; Mỹ 150.000 
Tù binh: VNCH 1 triệu ; Mỹ 766 
Mất tích khi lâm chiến (MIA: Missing in Action): trên 1.900 người Mỹ
- Tổn thất của cộng sản trong biến cố Tết Mậu Thân: 32.000 tử trận và 5000 tù binh, (trang 122). Sau cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân, có trên 150.000 lính Việt cộng đào ngũ sang phía VNCH. (trang 124)
- Bản kết toán nấm mồ tập thể Đường số 7 như sau: 75% của 45.000 quân rút lui bị tử trận hay mất tích; 60% của 450.000 thường dân di tản bị sát hại. Số tổn thất bên lề (collateral damage) lớn lao này nói lên tính căm thù khát máu và mù quáng của quân cộng sản BắcViệt [1]

**
Theo công bố của chính phủ Hà Nội, tổng số binh sĩ và nhân viên quân sự của miền Bắc và MTGPMN chết trong cuộc chiến là 1 triệu 1 trăm ngàn người (1.100.000). Tổng số dân chính bị giết cả hai phía là 2 triệu. Ước tính con số thường dân chết do chiến dịch dội bom “Thần Sấm” (Operation Rolling Thunder) của Mỹ gây thiệt hại từ 52 ngàn đến 182 ngàn người. Bản thống kê đầy đủ về thiệt hại nhân mạng trong các cuộc dội bom của Mỹ năm 1972 không thể xác định được một cách chắc chắn. Con số toàn bộ thường dân miền Bắc thiệt mạng ước lượng từ 50 ngàn (50.000) đến nhiều triệu người.

- Phía Quân Lực VNCH thiệt hại từ 300 ngàn (300.000) đến 500 ngàn (500.000) thương vong và phỏng chừng 184 ngàn (184.000) nhân viên dân chính bị giết trong suốt cuộc chiến. Có những bản ước tính, con số này lên tới một phần tư triệu.

Do tình trạng chiến tranh, nhiều vùng quê bị bỏ hoang vắng, con số tổn thất nhân mạng của thường dân ở miền Nam được ước tính từ 500 ngàn đến 2 triệu, có thể rút ra con số trung bình là một triệu hai trăm ngàn (1.200.000) người chết, so với con số nhân mạng nói trên của miền Bắc thì số người chết ở miền Nam hẳn là khoảng một triệu người. [2]
Mặt khác, theo tờ Orange County Register, có ít nhất 150 trại tù Cải tạo được thiết lập sau khi chế độ VNCH sụp đổ. Ít nhất 165 ngàn người chết trong các trại tù Cộng sản. [3]

**

Những con số ước tính trên đây dù được thực hiện chu đáo, khoa học thì cũng chỉ có giá trị tương đối. Con số thực vẫn là một ẩn số. Năm 1990, trong một chuyến xe lửa xuyên Việt, tôi và bố tôi có dịp ở chung toa hành khách hạng nhất với hai người khách lạ. Một người khách có một “tà lọt” đi theo phục dịch. Tôi hỏi thăm người đi theo, ông ta cho biết người kia là một nhà sử học, cán bộ cao cấp. Người này hỏi tôi quê ở đâu? Tôi nói Nghệ Tĩnh. Ông ta vừa hỏi vừa xác định “Đồng chí là cán bộ tập kết?”. Tôi “ừ ” cho qua chuyện. Không ngờ ông ta giới thiệu tôi với “nhà sử học” kia. Tôi miễn cưỡng tiếp chuyện. Trong câu chuyện nói về số tổn thất binh sĩ cả hai bên, ông ta khẳng định: - “Bên ta mất ít nhất cũng trên nửa triệu. Số lính ngụy chết phải nhiều hơn. Có khi gấp đôi bên ta.”

Dừng một lúc, “nhà sử học” nói tiếp: Thực ra cho đến nay chưa có thống kê nào chính xác và cũng không thể chính xác được. Ví dụ như trường hợp khi ta cho xâm nhập vào Nam hàng trăm chiến sĩ trên những chiếc tàu. Lúc bị địch phát hiện ta phải hy sinh, đánh chìm những tàu này. Con số người chết trong những trường hơp như vậy không được tính vào các thống kê...”.
Nghe xong câu chuyện đó tôi sửng sốt về một sự thật mà chưa bao giờ tôi nghĩ tới.

 Viết xong 10. 2009

-----------------------
[1] “The Tragedy of the Vietnam War” by Văn Nguyễn Dưỡng. NXB McFarland& Company, Inc., Publisher, 2008.
[Một Số Ý Kiến Đóng Góp Sau Khi Đọc Cuốn The Tragedy of The Vietnam War của Văn Nguyên Dưỡng, Cung Trầm Tưởng].
Xem thêm tại [http://www.coinguon.us/index.php?articleID=304]
[2] (Vietnam War casualties – Wikipedia)
[3] (“Camp X30-D The survivors 1975-2001”, Orange County Register  30.4.2001)


Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...