Thursday, January 22, 2015

40 Năm Nhìn Lại Những Bộ Mặt PHẢN CHIẾN & PHẢN TỈNH
















I. PHẢN TỈNH MUỘN MÀNG
Năm 1954, sau Hiệp định Geneve ký kết giữa Pháp, Nga sô, Trung cộng và CSBV (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, hơn một triệu người miền Bắc ồ ạt di cư vào Nam tìm tự do và tìm đất sống. Đây là cuộc di cư vĩ đại lần đầu tiên trong lịch sử Việt tộc vào thời cận đại. Hãy khoan nói về cuộc di cư vĩ đại lần thứ hai, với hơn hai triệu người, sau ngày 30-4-1975 mà trong đó có nhiều, rất nhiều người đã từng bỏ xứ ra đi bằng tàu há mồm từ Hà Nội Hải Phòng vào miền Nam Việt Nam năm 1954.

Một cách ví von, người ta cho rằng đó là những cuộc bỏ phiếu bằng chân dành cho chế độ Cộng sản, mà nếu được tự do ra đi công khai, sẽ có hàng chục triệu “lá phiếu” như vậy. Điều đáng nói ở đây là tại sao trước một hiện thực lớn lao   như thế mà có không ít những người được cho là trí thức, là có ăn học lại không nhìn ra được thực chất của sự kiện? Họ đa nghi, mù quáng hay vì một một lý do nào đó, nhưng hẳn không phải là vì thiếu kiến thức, bởi vì họ là những người được cho ăn học.

Một thiểu số, không nhiều, nhưng những con sâu độc ấy đã tác hại không nhỏ vào con đường chính nghĩa của quân dân miền Nam trong công cuộc chiến đấu bảo vệ cuộc sống yên lành và tự do, nhân phẩm của con người. Những con sâu độc trong ổ sâu bọ đi theo “MTDTGPMN”, đám trí thức xôi thịt, và đám sinh viên thiển cận, mù quáng, giờ đây không còn, hay không dám cựa quậy trong một xã hội đầy dẫy ung nhọt nhớp nhúa, cam phận là kẻ tội phạm đồng lõa bán đứng miền Nam cho chủ nghĩa cộng sản, đang nằm nghe lời nguyền rủa của lương tâm và lịch sử.

Một trong những trí thức tiêu biểu cho hạng người THIỂN CẬN ấy – Lãnh tụ Sinh Viên phản chiến Đoàn Văn Toại đã phát biểu như sau:

“Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Nga Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng.” (ĐVT, Quần đảo ngục tù Việt Nam - The Vietnamese Gulag).

Hình như con người, khi có sẵn một thành kiến nào đó thì họ dễ dàng bị mù quáng, lý trí bị mây mù thành kiến che khuất, dẫn tới những hành động thiếu khôn ngoan.

Có một sự kiện lịch sử, chưa có ai đề cập và gần như đi vào quên lãng, đó là hành động tự vẫn của nhà văn Nhất Linh, tức nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam. Ông Nguyễn Tường Tam đã tự tử, mất ngày 7-7-1963 tại Sài Gòn, (sau một cái trát mời hầu tòa) để phản đối chế độ Đệ Nhất Cộng hòa của TT Ngô Đình Diệm “đàn áp Phật Giáo”. Ngày nay, người ta đã nhìn thấy chế độ của TT Ngô Đình Diệm có đàn áp Phật Giáo hay không? Và sự cáo chung của Đệ Nhất Cộng Hòa đã đem đến hậu quả gì? 30-4-1975, miền Nam rơi vào ách thống trị của tập đoàn Cộng sản bán nước.

Ông Nguyễn Tường Tam là một nhà trí thức, một nhà cách mạng, nhưng vì thành kiến với chế độ của TT Ngô Đình Diệm, ông đã không nhìn ra hậu quả của việc đánh sập chế độ, phá bỏ thế ổn định, gây nên tình trạng hỗn loạn chính trị, xáo trộn đời sống xã hội, tạo lợi thế cho Cộng sảïn về mặt quân sự. Ông đi tìm cái chết và phủi tay trước trách nhiệm đối với 30 triệu người dân miền Nam lúc ấy, thay vì ông đi tìm một giải pháp và cùng chung vai gánh vác trách nhiệm. Đó là một cái chết mà ngôn ngữ đường phố gọi là lãng nhách, vô ích, không cần thiết cho đại sự.

Chỉ riêng về thời kỳ lịch sử miền Nam Việt Nam 1954-1975, đã xuất hiện khá đông một số trí thức khoa bảng, tu sĩ và tuổi trẻ trong giới sinh viên nổi lên thành những tên tuổi trong các phong trào phản chiến, chống đối chế độ, tiếp tay hoặc đi theo hoạt động cho Cộng sản. Chúng ta còn nhớ những tên tuổi như Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Trần Ngọc Liễng, (bà) Ngô Bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên.... những tu sĩ như Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, và những tu sĩ Ấn Quang... cùng với đám SV Dương Văn Đầy, Trịnh Đình Ban, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Trần Thị Lan, Nguyễn Hữu Thái.... ở Sài Gòn, sau 30-4 trở thành những lẻ lêu bêu giữa xã hội CS độc quyền chính trị.

Ở, Huế, những tên đồ tể như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh... cũng chỉ là những miếng vỏ chanh để CS vắt tiếp trước khi vứt vào thùng rác.
Những tên tuổi trí thức khoa bảng như Trịnh Đình Thảo, Phùng Văn Cung, Hồ Thu, Nguyễn Hữu Thọ, Lâm Văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị... đi theo “giải phóng” cuối cùng cũng gia đình tan nát. Khi tỉnh ngộ, bao nhiêu biệt thự, phố xá, đồn điền, gia sản, ruộng đất, cơ xưởng, cửa hàng, nhà thuốc tây... trở thành tài sản của nhà nước. Bản thân lêu bêu, mấy năm sau chết trong âm thầm ghẻ lạnh của chính quyền*. 

Trước sự sụp đổ của xã hội miền Nam, người dân trong xã hội mới – xã hội XHCN lâm vào cảnh điêu linh, không một người nào trong đám trí thức này dám mở miệng nói lời phản kháng; hoặc ít ra, nói lời sám hối như một số Sinh Viên Việt Cộng phản chiến, nằm vùng, dù có muọân màng: Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Đào Hiếu, Đoàn Văn Toại...
Toại nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon từng biểu tình đòi Quốc Hội hủy bỏ cuộc bầu cử Tổng Thống Thiệu, đốt xe Mỹ, viết điện tín gởi TT. Richard Nixon!. Nhưng rồi cũng bị tù ngay trong những ngày đầu “giải phóng”. Thoát được ra nước ngoài, Đoàn Văn Toại viết sách so sánh hai chế độ lao tù trong quyển “Quần đảo ngục tù của người Việt Nam” (The Vietnamese Gulag).

Toại viết trong hồi ký, nhớ những ngày tù thời Thiệu, thức ăn không hết, còn làm khó chính phủ “cơm tù không đủ tiêu chuẩn” nên trả lại! Quần áo thay đổi liền liền; phòng giam Sàigon rộng rãi bằng 40 lần nhà tù mang tên HCM. Vào tù Tp Hồ Chí Minh nghẹt thở, “nhà tù Thiệu rộng quá!” 

Cuối cùng Đoàn Văn Toại đã thành thật sám hối, nhận tội trước lịch sử và nhân dân miền Nam: “Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi...” 

Người thứ hai là Lê Hiếu Đằng, quê Quảng Nam, theo học tại đại học Luật Khoa Sài Gòn, nguyên là phó Tổng Thư Ký Ủy ban Trung Ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam (1968-1977), nguyên Tổng thư ký Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định (1969-1975), nguyên phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM (từ 1989-2009), là Đại biểu HĐND Thành phố khóa 4, khóa 5.

Từ 1975 đến 1983 Đằng là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc Khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Chức vụ sau cùng là Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đúng bảy tuần lễ trước khi nhắm mắt, người đảng viên hơn 40 tuổi đảng này đã ra tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản, mang theo nỗi ân hận tiếp tay cho “các tập đoàn lợi ích phản bội nông dân, phản bội dân tộc Việt Nam” (Lời của LHĐ nói với đài RFI). Và đây là nguyên văn bản tuyên bố viết tay của Lê Hiếu Đằng:
Tôi tên LÊ HIẾU ĐẰNG là ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì:

ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.
Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi.
Ngày 04.12.2013
Lê hiếu Đằng
(chữ ký)             

Một tên tuổi khác, Huỳnh Tấn Mẫm, tên khai sinh là Trần Văn Thật, sinh tại Tân Sơn Hòa, tỉnh Gia Định học sinh Trung học Petrus Ký. Năm 1963, Mẫm đậu Tú tài toàn phần và trúng tuyển kỳ thi vào Đại học Y khoa Sài Gòn, vì học khá cho nên được Bộ Y tế chính phủ VNCH cấp học bổng. Mẫn tốt nghiệp BS Y khoa sau 1975.

Năm 1958, lên 15 tuổi, đang học lớp Đệ ngũ (lớp 8) trường Pétrus Ký, Mẫm được kết nạp vào tổ chức bí mật do Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí) cầm đầu. Tại đây, Mẫm từng được giao công tác rải truyền đơn chống chính quyền Sài Gòn và năm 1960 được kết nạp vào Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng Sài Gòn-Gia Định.
Năm 1963 Mẫm được kết nạp vào tổ chức của Cọâng Sản vào thời kỳ Phong trào Phật Giáo.

Năm 1965, được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng. 
Là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn - Gia Định nhiệm kỳ 1969-1970.
Từng là Đại biểu Quốc hội CS khóa 6, từng là Tổng biên tập đầu tiên của báo Thanh Niên.
Hiện là chủ tịch của cái gọi là “Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo Thiên Tâm”, thuộc Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố, Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố HCM.

Tại Sài Gòn, ngày 4 tháng 7 năm 2014 Huỳnh Tấn Mẫm phổ biến một thư ngỏ gởi tuổi trẻ Việt Nam, kêu gọi những thế hệ Thanh niên -Sinh viên -Học sinh hôm nay thức tỉnh toàn diện trước một giai đoạn lịch sử. Trong thư có đoạn:

“- Sức mạnh có ưu thế nhất đang lớn lên từ trong tim và trong trí tuệ của các bạn, là niềm hy vọng của dân tộc – những thế hệ Thanh niên-Sinh viên-Học sinh hôm nay”... 
Mẫm kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam phải cương quyết làm người công dân tự do, dù xã hội chưa có luật pháp thừa nhận tự do đúng nghĩa. Phải cương quyết làm con người có quyền con người, dù quyền con người chưa được thừa nhận đầy đủ. Phải có quyền và có nghĩa vụ – quyền sống tự do và nghĩa vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ...”   

Một người khác, Đào Hiếu sinh năm 1946 tại Bình Định, gia nhập các phong trào học sinh hoạt động cho CS tại Quy Nhơn. Năm 1968 gia nhập đảng CS. Năm 1970 bị bắt quân dịch, là binh nhì Sư đoàn 22 Bộ Binh QL.VNCH, sau đó trốn vào Sài Gòn hoạt động với tổng hội sinh viên phản chiến cho tới 30-4-1975.

Hiếu tốt nghiệp Cử nhân văn chương trước 75, sau 75 cộng tác với báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ. Năm 2009, sau nhiều lần bị công an gọi làm việc, Đào Hiếu bị buộc phải xóa hết bài trên trang web http://daohieu.com để đổi lấy an toàn bản thân, khỏi bị bắt giam. 
Năm 2000 Đào Hiếu đã xuất bản tác phẩm “NỔI LOẠN”, gây được tiếng vang trong dư luận. Tác phẩm này đã được giới thiệu trong mục Điểm Sách (do nhà văn Diên Nghị phụ trách) trên trang Văn Học Cội Nguồn, Thời Báo Bắc California, tháng 8/2000. Phải mất 25 năm, sau ngày 30-4 Đào Hiếu mới thức tỉnh và dám lên tiếng, như một đốm sáng lóe lên trong một màn đêm ngột ngạt.

Mới đây, sau ngày Trung Cộng đặt giàn khoan Hải Dương trên vùng biển thuộc chủ quyền VN, trước sự im lặng hèn nhát của giới lãnh đạo đảng CSVN, Đào Hiếu đã phổ biến trên mạng bài viết HUYỀN THOẠI ĐU DÂY –  Cho rằng hành động của Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và các Ủy viên bộ Chính trị năm 1990 tại hội nghị Thành Đô là một việc làm mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”. Bài viết khẳng định: Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc. Từ trước 1945 đến nay, nhà cầm quyền CSVN đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.
Chuyện Việt Nam đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ xem ra chỉ là bịa đặt.

II. JANE FONDA và PHẢN CHIẾN MỸ:
Hành Vi Cảm Tính Và Sự Thức Tỉnh Kịp Thời.
Chiến tranh Việt Nam, kết thúc đến nay đã 40 năm. Nhưng lịch sử chưa khép lại ở đây. Bức tường đen khắc tên 58 ngàn quân nhân Mỹ hy sinh trên chiến trường Việt Nam sẽ mãi mãi còn sừng sững và in đậm trong pho chiến sử của Hoa Kỳ. Đã có hàng chục, có thể hàng trăm tác phẩm, bài viết về cuộc chiến này, đã và đang trưng bày, lưu trữ trong các thư viện nhiều quốc gia trên thế giới.

**
40 năm, nhìn lại những phản diện ẩn khuất – mặt tối, mặt sáng của cuộc chiến, những ẩn giấu lịch sử đang dần dà được phơi bày qua những tài liệu giải mật. Sự Thật, Thiện Ác, Chánh Tà đã được xác quyết. Ngày nay gần 90 triệu người dân Việt, ngoại trừ số công bộc hoặc lớp người đang hưởng những quyền lợi vật chất do đảng CS ban bố, đều nhìn nhận cuộc chiến Bắc Nam, Quốc Cộng, do CSBV phát động xâm lăng miền Nam là một cuộc chiến tàn ác và phi nghĩa. Cuộc chiến đã làm tiêu hao hàng chục thế hệ, hàng trăm năm thành tựu của đất nước.

Ngày nay, sách vở và công luận của người dân miền Nam VN, ở trong nước và hải ngoại, kể cả một bộ phận người Mỹ, đều lên án Hoa Kỳ là kẻ phản bội đồng minh. Bên cạnh đó có một lập luận cho rằng nếu không có sự tiếp tay của phong trào phản chiến Mỹ thì Cộng Sản VN đã không thể thắng chiến tranh Việt Nam dễ dàng như vậy.

Người Mỹ phản chiến ở cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất, phần đông  chưa đặt chân tới Việt nam, chưa có hiểu biết gì về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Khi cuộc chiến đến hồi leo thang, với sự hiện diện của trên năm trăm ngàn lính Mỹ trên chiến trường VN. Tin tức hàng ngày trên hệ thống truyền thông loan tải những trận đánh ác liệt với con số tử vong lính Mỹ ngày một tăng cao, nhiều người xúc động trước sự chết chóc, trong đó có con em họ, họ tham gia vào hàng ngũ phản chiến là hành động khác hẳn với đám trí thức Sài Gòn tiếp tay với Việt Cộng.

Người Mỹ phản chiến với sự tiếp sức thúc đẩy của giới truyền thông và đám văn nghệ sĩ cấp tiến, thiên tả đã tạo thành một áp lực mạnh mẽ buộc chính quyền của các đời tổng thống từ John F. Kennedy, Richard Nixon, Lyndon Johnson, đến Gerald Ford phải lúng túng mà đi tới quyết định .... Phản Bội Đồng Minh!
Trong hàng ngũ phản chiến Mỹ có những người không vì tình cảm trắc ẩn mà cố tình tiếp tay kẻ thù, phản bội sự hy sinh của các tù binh Mỹ, như trường hợp của nữ minh tinh màn bạc Jane Fonda mà các cựu chiến binh Mỹ lên án cô là tên phản quốc, với tấm ảnh biểu tượng bằng sợi dây thòng lọng.

Trong phong trào phản chiến Mỹ từ giữa thập niên 60s, hai nữ nghệ sĩ nổi bật là Jane Fonda và Joan Baez.
Jane Fonda còn được các cựu quân nhân Hoa Kỳ gọi là Jane Fonda-Jane Hanoi,  và Hanoi Jane, một nhân vật mà khi nói đến chiến tranh VN không thể không nhắc đến. Tấm ảnh chụp tại Hà Nội tháng 7-1972 cho thấy Jane Fonda ngồi vào ghế súng, bên súng phòng không, đội nón sắt, tay cầm càng súng như thể đang bắn máy bay Mỹ, được truyền thông phổ biến và ghi chú. (xem ảnh)


Jane Fonda sings an antiwar song near Hanoi during the Vietnam War in July 1972. Fonda, seated on an anti-aircraft gun and wearing a Vietnamese-madeao-dai pantaloon and blouse, came to "encourage" North Vietnamese troops. She now says the incident was a "betrayal" of U.S. soldiers.

Jane ân hận vì sự cố tấm ảnh này tự nó đã tố cáo cô là kẻ phản quốc, Jane cố tình ngăn chặn, nhưng không kịp. Ảnh đã được phổ biến rộng rãi qua truyền thông quốc tế.
Barbara Walters, nữ xướng ngôn viên của đài CBS đã chỉ trích việc TT Obama có ý định vinh danh Jane Fonda là một trong "100 người Đàn bà của Thế kỷ."

Barbara Walters viết: “Không may là nhiều người đã lãng quên, thậm chí còn không biết bao nhiêu người khác nữa chưa từng biết Fonda đã phản bội không chỉ ý thức hệ của đất nước Hoa Kỳ mà còn phản bội những người đã phục vụ và hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam”.
Nhiều Sĩ Quan Phi công tù binh Mỹ là "tội phạm chiến tranh" của Jane Fonda.

- Trung Tá Jerry Driscoll, một phi công F-4E đã khạc nhổ vào Jane Fonda tại Hỏa Lò Hà Nội, đã bị công an đánh bằng dùi cui và gậy gỗ một cách điên cuồng.

- Cũng tại Hỏa Lò, có một lần Jane Fonda đã trao cho viên trưởng trại hết những mẩu giấy (các tù binh ghi tên và số an sinh xã hội) nhắn cho gia đình biết là còn sống, lén lút nhờ Jane đưa về Mỹ. Vì việc này, có ba trong số bốn phi công tù nhân bị đánh chết. Đại tá Larry Carrigan (6 năm ở Hỏa Lò) là người thứ tư xuýt chết, nhưng ông đã sống sót, nhờ đó hành động của Jane Fonda đã được đưa ra ánh sáng.   

Sau 30-4-1975, nhiều người Mỹ phản chiến đã thật lòng hối lỗi, đã nhìn nhận sai lầm, nhưng Jane Fonda tuyệt nhiên không. Không bao giờ Jane bày tỏ sự hối tiếc về hành động phản bội của mình.

Jane Fonda: “Tấm ảnh là một lỗi lầm lớn của tôi” 
Veterans: Tha Thứ? Có thể.  Quên? Không bao giờ.

Mãi tới tháng 1-2015, trong một buổi nói chuyện của Jane tại  Trung tâm Nghệ Thuật  “The Weinberg Center for the Arts”, ở tiểu bang Maryland vào ngày thứ bảy, 17 tháng 1, kéo the nhiều đám đông phản đối, trong số đó có 50 cựu chiến binh.

Nhiều người phản đối mang theo bản copy những tấm hình Jane, ngồi trên chiếc xe bắn máy bay, chụp tại  Hà Nội năm 1972 với dòng chữ: "Forgive? Maybe. Forget? Never." (Tha Thứ? Có thể. Quên? Không bao giờ).

Tại buổi nói chuyện này, để trả lời những câu chất vấn của cử tọa, Jane – người nữ minh tinh đoạt giải Oscar, nay 77 tuổi, đã gọi “tấm ảnh nổi tiếng của bà ở Việt Nam là một lỗi lầm lớn (a huge mistakes). Jane bày tỏ sự hối hận. Bà nói: “Bất cứ lúc nào có thể được, tôi sẽ thử ngồi xuống với các cựu chiến binh và nói chuyện với họ, bởi vì tôi hiểu điều đó đã làm tôi buồn. Nó làm tôi đau đớn và tôi sẽ mang xuống tận đáy mồ Jane nói thêm: “tôi đã làm nên một lỗi lầm lớn, rất lớn, khiến nhiều người nghĩ là tôi chống lại những người chiến binh Mỹ”.

Tờ The Frederick News-Post tường thuật phần đông những người đến phản đối là các cựu chiến binh. Tập họp ngoài hí viện, nơi Fonda có buổi nói chuyện trong hai giờ Họ la ó (booing): Tha Thứ? Có Thể. Quên? Không bao giờ.

Đây không phải là lần đầu tiên người nữ tài tử này nói về sự nổi tiếng của bà là “một kẻ phản quốc”. Năm 2011, bà đã viết cho trang blog Huffpost, hy vọng sẽ nói lên “sự thật” về câu chuyện của bà. Jane viết: “Sự dối trá này đã luân lưu trong gần 40 năm, tiếp tục mở lại vất thương của cuộc chiến tranh Việt Nam và gây nên sự đau đớn của các gia đình người Mỹ từng phục vụ cuộc chiến. Sự dối trá làm sai lạc sự that về việc tại sao tôi đến miền Bắc Việt Nam và họ kéo dài huyền thoại chống chiến tranh có nghĩa là chống lại người lính.

Năm 2013, lần xuất hiện trong chương trình "Oprah's Master Class", trước đó Jane đã gọi tấm ảnh kia là “một lỗi lầm không thể tha thứ”.

Hình như Jane Fonda bị ám ảnh bởi điều mà nhiều người cho là bà ta đã phản bội những người chiến binh Mỹ. Theo tờ Frederick News-Post, Jane đã không hề lấy làm ân hận thời gin bà đến Việt Nam, cuối cùng bà vẫn cho chuyến đi của bà là một kinh nghiệm không thể tưởng tượng được.

SN lược dịch
theo The Huffington Post, 01/19/2015
Jane Fonda Draws Veteran Protesters In Maryland,
Says Vietnam Photo Was A 'Huge Mistake'


Ỷ Lan, một người Anh phản chiến, sau 1975 đã bày tỏ sự hối hận và đứng hẳn về phe người quốc gia tỵ nạn chống CSVN.


Một ca sĩ phản chiến người Mỹ Joan Baez, đã hồi tâm và chuộc lỗi bằng hành động dấn thân đến tận các trại thuyền nhân tỵ nạn để tìm hiểu tại sao VN “hòa bình” rồi mà hàng hàng lớp lớp người vẫn vạch đường máu để ra đi? Bà đích thân đi “điều tra”, tìm hiểu sự thật từ các trại tị nạn tại Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, và Indonesia... 

Nhà văn Nguyễn Việt Nữ, trong bài viết “Nhớ Air Raya, Hoang đảo cứu người và Joan Baez” cho biết bà đã gặp Joan Beaz tại đảo Air Raya, Indonesia. 
Joan Baez đến Air Raya, mời họp các người tị nạn, phần đông là các quân nhân tham dự. Họ viết đơn nói rõ lý do ra đi. Joan đã nghe tận tai những sự thật tàn bạo trong xã hội và nhà tù CSVN sau 75, chẳng hạn “Tòa án nhân dân” của CSVN kết án tử hình trước khi xử! Hòm đã để sẵn sau phòng xử của phiên tòa.

Sau khi thu thập được những chứng cứ từ thuyền nhân qua các trại tỵ nạn, Ca sĩ Joan Baez ôm hết chồng hồ sơ từ các trại tị nạn về Hoa Thịnh Đốn, bắt tay vào những việc làm thiết thực, cụ thể:

I./ Kêu gọi những người trong hàng ngũ phản chiến cũ cùng ký tên vào một thư ngỏ “Open Letter to the Socialist Republic of Vietnam” gởi nhà cầm quyền CSVN. Thư ngỏ đó có được 78 chữ ký của những nhân vật phản chiến nổi danh, và đã đăng trên tờ The New York Times số ra ngày 1/5/1979.

II./ Khiếu nại với Tổng thống Mỹ lúc ấy là Jimmy Carter, rồi kéo đệ nhất phu nhân đi Thái Lan thăm người vượt biển. Bà cùng nhiều đoàn thể khác nữa như Đại Đức Thích Giác Đức, cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Sinh Viên Ngô Vương Toại kêu gọi T.T. Jimmy Carter phải nhận người tị nạn Đông Dương cho vào Mỹ.

Nguyên văn Thư Ngỏ 1979 của 78 nhân vật Phản Chiến Mỹ gởi nhà nước CHXHCN.VN: (*)
"Cách đây 4 năm, Hoa Kỳ đã chấm dứt 20 năm hiện diện ở Việt Nam. Một dịp kỷ niệm đúng ra là nguyên nhân để đón mừng, nhưng thay vào đó, lại là lúc để đau buồn.

Với một thảm họa thật mỉa mai, sự tàn ác, bạo lực và đàn áp do các thế lực nước ngoài áp đặt lên đất nước quý vị trong hơn một thế kỷ qua, đang tiếp tục ngày hôm nay dưới chế độ hiện thời. Hàng ngàn người Việt Nam vô tội, nhiều người mà "tội" của họ chỉ là các vấn đề thuộc lương tâm, hiện đang bị bắt giữ, tạm giam và tra tấn trong tù hoặc các trại cải tạo.

Thay vì mang lại hy vọng và hoà giải cho đất nước Việt Nam bị chiến tranh tàn phá, thì nhà nước của quý vị lại tạo ra một cơn ác mộng đau đớn và che khuất đi những tiến bộ quan trọng đã đạt được trong nhiều phạm vi của xã hội Viêt Nam. Nhà nước quý vị đã tuyên bố vào tháng 2/1977 rằng có khoảng 50 ngàn người đang bị giam giữ lúc đó. Nhiều ký giả, các nhà quan sát độc lập và người tỵ nạn ước lượng rằng con số tù nhân chính trị hiện thời khoảng giữa 150 ngàn và 200 ngàn người.

Con số chính xác có là gì đi nữa, thì sự thật đang tạo thành một bức tranh đen tối. Nhiều tin tức được xác nhận đang xuất hiện trên báo chí thế giới, từ báo Le Monde và The Observer đến Washington Post và Newsweek. Chúng tôi đã nghe nhiều câu chuyện của những người đến từ Việt Nam - công nhân và nông dân, các nữ tu Công giáo và tu sĩ Phật giáo, các thuyền nhân, văn nghệ sĩ và các nhà chuyên môn cũng như những người đã từng chiến đấu bên cạnh Mặt trân giải phóng.

- Các nhà tù đang tràn ngập với hàng ngàn đến hàng chục ngàn "tù nhân".
- Nhiều người bị mất tích và không tìm được tông tích.
- Nhiều người bị đưa đến các trại cải tạo, cho ăn bằng những khẩu phần gạo chết đói, buộc phải ngồi với cổ tay và cổ chân bị trói chặt, đến ngạt thở trong các thùng connex.
- Nhiều người bị dùng như những vật dò tìm bom mìn, dọn các bãi mìn bằng
tay chân trần trụi.

Đối với nhiều người, sống là địa ngục và cái chết là điều mong ước. Nhiều nạn nhân là đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã từng ủng hộ và chiến đấu cho mục tiêu thống nhất đất nước và quyền dân tộc tự quyết, họ là những người vì hòa bình, thành viên của các tổ chức tôn giáo hoặc vì các nền tảng đạo đức triết lý đã chống đối lại các chính sách độc đoán của chế độ Thiệu Kỳ; họ là các văn nghệ sĩ và trí thức quyết tâm được tự do sáng tạo bị hất hủi bởi các chính sách độc tài của nhà nước quý vị.

Yêu cầu của Tổ chức Ân xá Quốc tế và nhiều tổ chức khác để được tự tìm hiểu tình trạng lao tù vẫn chưa được đáp ứng. Các gia đình muốn biết tin tức về vợ chồng, con cái họ đều bị thờ ơ...

Chính một quyết tâm bền bỉ về các nguyên tắc cơ bản của nhân cách, tự do và quyền tự quyết đã là động cơ thúc đẩy rất nhiều người Mỹ phản đối chính quyền miền Nam và sự tham dự của đất nước chúng tôi vào cuộc chiến. Cũng chính vì một quyết tâm tương tự bắt buộc chúng tôi phải lên tiếng phản đối sự bất chấp đến tàn bạo về nhân quyền của quý vị.
Chúng tôi kêu gọi quý vị hãy chấm dứt ngay việc bỏ tù và tra tấn – cho phép một nhóm quốc tế gồm các nhà quan sát trung lập được đến để thanh tra các nhà tù và trung tâm cải tạo của quý vị.
Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên tuân theo các nguyên tắc của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà đất nước quý vị là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, đã cam kết phải thi hành.

Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên xác định lại cam kết mà quý vị đã tuyên bố về các nguyên tắc về tự do và phẩm cách con người... để thiết lập một nền hoà bình thật sự tại Việt Nam
Ký tên: Joan Baez

-----------------------
Thư được 78 nhân vật nổi tiếng ký tên, trong đó có I. F. Stone, Barton Bernstein, Daniel Berrigan, Jerome Weisner, Bert Coffey, Benjamin Dreyfus, Sanford Gottlieb, Terence Hallinan, Staughton Lynd, Allen Ginsberg, Edmund Pat Brown, Ginetta Sagan, Cesar Chavez, và Nat Hentof... trong đó có vài tên Mỹ Cộng nổi bật. (Người dịch - NVN)

(*) Bản địch của nhà văn Nguyễn Việt Nữ

  

Thursday, January 1, 2015

Bọ Lập và Rừng Cây - Nguyệt Quỳnh
















Có một cây là có rừng và rừng sẽ lên xanh…

Cách đây ít lâu tôi đọc một bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai với tựa đề “Hầu chuyện với anh Trương Tấn Sang” bài viết của ông xoay quanh hiện trạng của đất nước. Như một lời nói thẳng, nói thật, một lời tâm tình dựa trên câu nói mớm của ông Trương Tấn Sang khi tiếp xúc cử tri tại Sài Gòn. Ông Sang nói: “Chúng tôi sẵn sàng nghe những ý kiến cay đắng”.
Đúng như cảm nhận của ông Sang khi thốt ra lời nói trên. Ông Nguyễn Khắc Mai là một trong số những đảng viên CS thầm lặng, những người từng thiết tha với đảng, hết lòng với đất nước; và nay đã thất vọng, đã cay đắng lắm trước thực trạng xã hội và lối điều hành đất nước của lãnh đạo CS hiện nay. Ông Mai cố đem những lý luận Mác Lê và lời nói ông Hồ làm chuẩn, nhưng người đọc có thể thấu cảm được hết cả nỗi buồn, nỗi thất vọng của ông qua bài viết mà có đến tám lần ông nhắc đến chữ Cay Đắng.
Tôi nghĩ đến những đảng viên thầm lặng khác qua ông Nguyễn Khắc Mai. Những người ngày hôm nay, đi trên đất còn nghe được máu ấm của đồng đội mình trên mỗi bước chân qua. Tôi chợt thấy cảm thương những con người đã bỏ cả cuộc đời tin theo chủ nghĩa cộng sản và chạnh lòng nhớ đến câu nói của một nhà văn:“Lệ rơi, thật dễ để dùng ống tay áo lau đi, nhưng tôi phải làm thế nào để xóa vệt nước mắt khỏi trái tim mình?”
Nếu thật đó là tấm lòng của ông Nguyễn Khắc Mai, nếu thật sự tổ quốc không hề đánh mất họ, những người đã một thời lăn thân trong lửa đạn vì độc lập dân tộc, chắc chắn họ biết điều mình phải làm. Ông đã viết câu cuối trong bài tâm tình với ông Trương Tấn Sang như sau:
“Liệu chúng ta có thật tâm sám hối đặng cứu rỗi đất nước thoát khỏi tình thế hiểm nguy trước một Trung Hoa đế quốc, bá quyền nước lớn (mà Tập Cận Bình vừa tuyên bố), liệu có nhanh chóng thoát ra sự suy đồi, trì trệ, bảo thủ, lạc hậu hiện nay hay không…”
Liệu những đảng viên cay đắng như ông Nguyễn Khắc Mai có góp phần cứu nguy được vận mạng của đất nước đang chỉ mành treo chuông không? Tôi cho rằng họ làm được, câu trả lời nằm trong mỗi cá nhân của những Nguyễn Khắc Mai, và bằng vào quyết tâm phải hành động. Rõ ràng chúng ta không còn nhiều thời gian. Tình trạng nguy nan của đất nước không cho phép đợi chờ thêm nữa. Và cũng bởi vì quanh họ, những người dân tuy cô thế, thấp cổ bé miệng cũng đã bắt đầu từ lâu. Điển hình gần đây nhất là hình ảnh đáng phục của Bọ Lập cùng những bạn hữu của anh.

**
Ít ai biết Bọ Lập bị liệt hẳn nửa người sau một tai nạn. Ngay cả đến việc chuyện vệ sinh cho chính mình, anh cũng phải cậy dựa vào vợ con. Cũng ít người biết rằng anh đã một lần toan tự vẫn. Nhà văn Huỳnh Ngọc Chênh kể rằng: một hôm lựa lúc gia đình đi vắng, Bọ Lập đã lăn xuống khỏi giường, anh bò từ căn hộ tập thể của anh lên trên sân thượng. Anh định từ đó gieo mình xuống đất, tự mình kết liễu để tránh gánh nặng cho gia đình. May mắn, có người trong khu tập thể phát hiện và bồng anh xuống. Từ một người từng lâm vào những hố thẳm cuộc đời như thế, Bọ Lập đã vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn của chính mình để nghĩ đến nỗi khổ đau của người khác, để lo lắng về sự tuột dốc thảm hại của đất nước.

Biết được hoàn cảnh của Bọ, người ta thêm trân quý cảnh Bọ đi biểu tình chống Trung Quốc ngày 11.5.2014. Hôm đó, Bọ tự mình thuê taxi ra hiện trường tham gia với anh em. Lúc Bọ đến nơi thì đoàn biểu tình đã kéo đi xa rồi! Một mình, Bọ vẫn làm cuộc biểu tình dọc theo đường Đồng Khởi. Bây giờ nhớ lại, hình ảnh Bọ với đôi chân khập khiễng bỗng làm tôi ý thức ra mức quan trọng của TỪNG NGƯỜI ĐẤU TRANH trong tình cảnh hiện nay, đối với đồng đội và đối với việc chung.

Thật vậy, thử tưởng tượng năm1285, khi quân Mông Cổ xâm lăng ta lần thứ hai, Vua Nhân Tông đi thuyền nhỏ xuống gặp Hưng Đạo Vương, ngài hỏi rằng: “Thế giặc to như vậy, mà chống chọi với nó thì dân bị tàn hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân?” Nếu lúc đó câu trả lời của vị Quốc Công Tiết Chế khác đi, không phải là “ Bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước” thì liệu Đại Việt có còn trường tồn đến ngày hôm nay không? Hưng Đạo Vương đã dùng quyết tâm của chính ông mà bảo vệ được đất nước. Nếu như quyết tâm của một người có sức lan toả đến nhiều người như vậy và giúp cho quân đội của một đất nước nhỏ bé có thể đánh thắng một đội quân lừng lẫy thế giới; thì mỗi chúng ta với lòng thiết tha cùng vận nước, nếu đứng cùng nhau, chắc chắn không có bất cứ một cường quyền nào có thể huỷ diệt được dân tộc mình.

Một điều hệ trọng cũng cần được vạch ra: khi cuống cuồng "bắt khẩn cấp" một Bọ Lập đang liệt nửa người và phải đánh máy bằng một tay, lãnh đạo CSVN đã lộ rõ sự bối rối, yếu kém và lo lắng về mức độ chán ghét của dân đối với chế độ. Lo lắng đến mức họ không dùng Điều 258 - lợi dụng quyền tự do dân chủ - để buộc tội, mà phải dùng đến Điều 88 - tuyên truyền chống chế độ - để buộc tội anh. Bạn bè và dư luận khắp nơi lại càng chán ghét và căm phẫn khi nhìn Bọ bị công an lôi đi trong tình trạng không có thuốc men, không người giúp anh ngay cả trong việc vệ sinh hàng ngày. Đây là một hành động tàn nhẫn của lãnh đạo CS, chẳng khác gì một hình thức tra tấn nguội đối với một nhà văn đã cao tuổi lại bịnh hoạn.

Nhưng những hành động trấn áp để dằn mặt người chung quanh này, vẫn chỉ dẫn đến những tác dụng ngược, như những trò tương tự trong suốt mấy năm qua đối với Linh mục Nguyễn Văn Lý, anh Điếu Cày, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà báo Nguyễn Hữu Vinh, blogger Người Lót Gạch, v.v... Cứ sau mỗi vụ bắt bớ vô lý và hèn kém, phản ứng của giới đấu tranh dân chủ khắp nước đã không xẹp xuống mà càng đông người xuất hiện công khai hơn, hoạt động mạnh mẽ hơn. Đặc biệt với trường hợp của Bọ Lập. Sự bất nhẫn trước cái ác, cái bạo ngược vô lối của nhà cầm quyền đã dẫn đến hàng trăm bài viết, bài status trên mạng bày tỏ lòng yêu thương và kính trọng đối với Bọ.

Đáng phục hơn nữa, một số bạn hữu xót xa cho Bọ, đã không ngần ngại công khai tuyên bố sẵn lòng đi tù như Bọ, sẵn sàng lãnh còng đôi 88 cùng Bọ:

Facebook ‘Lô Đề VN’ đăng hình hai blogger Nguyễn Xuân Diện và Nguyễn Tường Thụy sát vai nhau với dòng chữ “2 tù nhân dự khuyết HN có trong danh sách gặp nhau rất vui vẻ. Đang tranh nhau xem ai được bắt trước, ai được bắt sau. Cả 2 đều muốn được bắt điều 79, 88”

Blogger Nguyễn Lân Thắng phát biểu:“Bất cứ blogger chính trị nào cũng có thể bị bắt bởi điều 88... chúng tôi đã sẵn sàng…!”.

Riêng Facebooker Hoàng Dũng còn đặt chỉ tiêu cho mình: “Phải thế chứ! Đã bị bắt thì phải bị bắt vì chính trị và hẳn phải là 79 hay 88 chứ! Ước gì mình được như bọ Lập. Có bác nào biết những tài liệu tàng trữ của bọ Lập là những tài liệu gì để rồi mà bị bắt không? Chỉ cho tôi để tôi tự nguyện giao nộp với”.

Chính lòng yêu thương Bọ trong tình trạng thể chất hiện nay và sự rành rẽ về khả năng hèn kém của lãnh đạo đã dẫn đến sự đồng tình trong giới đấu tranh rằng: dẫu mai này nếu Bọ có đuối sức trong tù, nếu Bọ cần phải về nhà uống thuốc, tịnh dưỡng thì chắc chắn sẽ có nhiều anh chị em sẵn lòng thế chỗ cho Bọ, và họ vẫn luôn thương quí Bọ hết lòng.

Đến lúc này, hình như mọi người đều đã nhận ra rằng nếu rụt lại trong im lặng chúng ta chỉ yên ổn tạm thời, nhưng cùng lúc chấp nhận cho nhà cầm quyền lại treo một cái mã tấu khác trên đầu mình. Và nếu rụt lại thì cũng sẽ rất có lỗi với Bọ, với những hy sinh cao quí của Bọ, của anh Ba Sàm, anh Duy Nhất, và bao người khác. Tôi tin rằng nhiều người âm thầm ngoài kia đang muốn được sống như Bọ. Họ thấy cần phải làm một điều gì đó với Bọ, cho Bọ, và vì Bọ. Ai cũng muốn được cùng với Bọ dũa cho mòn, cho đứt cái còng 88 này.

***
Bỗng dưng tôi nhớ đến cái ý niệm một mình trong bài hát “Một Đời Người, Một Rừng Cây” của nhạc sĩ Trần Long Ẩn “…tôi vẫn nhớ hoài một loài cây, sống gần nhau thân mới thẳng, có một cây là có rừng và rừng sẽ lên xanh”. Tôi bỗng muốn cám ơn Bọ Lập, cám ơn đôi chân khập khiễng trong buổi biểu tình một mình của anh. Từ anh, tôi đã nhìn thấy một rừng cây đang lên xanh. Tôi nhìn thấy Hoàng Dũng, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Xuân Diện và nhiều, nhiều người khác nữa…

Và tôi nghĩ đến nỗi cay đắng của những Nguyễn Khắc Mai với một niềm hy vọng lớn lao. Nói cho cùng, nếu so sánh tương quan lực lượng giữa ta và giặc, thế hùng mạnh của Mông Cổ thời ấy và sự hung hãn của Trung Cộng ngày hôm nay… không có gì khác biệt. Rõ ràng, thắng hay bại, nhục hay vinh của một dân tộc tuỳ thuộc vào sự quyết tâm và sáng suốt của mỗi con người.


1-1-2015, khai bút cho một năm thật sự mới.

Nguyệt Quỳnh


Sunday, December 21, 2014

Tác Phẩm Mới




DÒNG CỔ NGUYỆT
Thơ Tuệ Nga
Cội Nguồn XB 
Sách khổ 17 x 29cm dày 484 trang
Bản đăc biệt in trên giấy láng mịn.

Một Nhận Định Tổng Thể Về THƠ TUỆ NGA
SONG NHỊ

Trong văn học Trung Hoa, từ thời đại xa xưa, Chu Hy cho rằng “nhân chi sơ tính bản tĩnh”. Từ “bản tĩnh”, do cảm xúc của dục tính mà “tĩnh” chuyển sang “động”. Và một khi tâm đã động thì trí sẽ vận dụng đến suy tư, khi đã suy tư thì phải thốt lên bằng tiếng nói. Lời nói không đạt tới được cái tận cùng của cảm xúc nên sinh ra vịnh thán. Khi đã vịnh thán thì không thể không vận dụng đến tiết tấu tự nhiên từ mối rung động xốn xang... Và từ mối rung động đó mà một thể tính cảm xúc xuất hiện. Người ta gọi đó là nguồn thơ.

Tất cả những người làm thơ đều có nguồn cảm xúc giống nhau, như nhau. Khác nhau là ở cái căn nguyên từ đối cảnh, đối tình của mối rung động. Nguồn cảm xúc ấy vượt lên trên, không chỉ là một tâm sự tách bạch. Một bài được gọi là thơ, diễn đạt để phô bày một tâm trạng chưa hẳn là một bài thơ, đó không phải là nguồn thơ. Nguồn thơ là dòng chảy mênh mông bất tận, dẫu cho đến khi cuộc sống có mỏi mòn, thể xác kia có già nua thì nguồn thơ vẫn không tàn héo.
Tuệ Nga chưa hẳn đã đi tìm ngọn ngành của nguồn thơ như ý người xưa mà tôi vừa biện dẫn. Cũng không phải ngẫu nhiên để bà có những tác phẩm với các tựa đề: Suối, Suối Hoa, Suối Trầm Tư, Hoa Đài Dâng Hương, Hoa Sương, Về Bên Suối Tịnh, Từ Giòng Sông Trăng và nay là Dòng Cổ Nguyệt… đó là những thi phẩm tập hợp nhiều mối cảm xúc từ một nguồn thơ lai láng trong tâm hồn tác giả.

Thơ Tuệ Nga thường tập trung vào ba chủ đề chính, thể hiện cảm xúc chất chứa dạt dào từ trong tâm khảm: Mẹ, Quê Hương và Tâm Đạo. Ba chủ đề, ba nội dung này có khi trộn lẫn, chan hòa, xen kẽ vào nhau, người đọc dễ dàng nhìn thấy trong từng bài thơ, trong từng chương đoạn, dù không được sắp xếp rạch ròi.

Mẹ – một hình ảnh, một biểu tượng đẹp tự nhiên muôn thuở của nhân loại, nhất là đối với Á Đông, và với con người Việt Nam.
Mẹ - với Nhà thơ Tuệ Nga không còn trong phạm trù mẫu tử, Mẹ là vầng trăng vằng vặc, là đóa hoa tươi thắm, là làn hương thơm ngát, là thanh âm dịu ngọt:
Từ tình cảm mẫu tử thiêng liêng đằm thắm, dưới ngòi bút Tuệ Nga, mẹ đã hoá thân thành quê hương, hay đúng hơn quê hương đã hoá thân thành người mẹ, một sự đồng hóa chỉ có ở những tâm hồn dạt dào lòng yêu nước, yêu quê hương của mình. Với Tuệ Nga, hai hình ảnh – quê hương và mẹ đã hòa nhập thành một chủ thể cảm xúc trong tâm hồn nhà thơ: Tình Mẹ và Tình Quê. Mẹ và Quê Hương là một. 

Đọc những bài thơ Tuệ Nga nói về trăng, về quê, về mẹ mới thấy ở tâm hồn nhà thơ là cả một trời cảm xúc dạt dào, cả một nguồn cảm hoài lai láng về tình mẹ, về vầng trăng Việt Nam, về mảnh vườn, về con sông, thành phố, ruộng đồng: Bắc Ninh, Hà Nội, Huế, Sài Gòn...
Từ nơi đây, trên  quê người xứ lạ, nhà thơ chắt chiu từng hình ảnh, từng kỷ niệm để mà bâng khuâng, để mà hoài vọng: Từ hoài vọng đó nhà thơ ngồi soi rọi, nhìn vào tâm khảm để thấy, để biết mình có gì, còn gì và mong ước những gì.

Về Thơ Đạo, Tuệ Nga không đi tìm nguyên khởi của Đạo mà từ Đạo, chứng nghiệm lẽ đạo vào cuộc nhân sinh, vào nhân duyên nghiệp quả để “ngộ” lẽ vô thường, từ đó phóng suy tư vào cuộc sinh tồn, vào lẽ sắc không thanh thản.
Như hầu hết những người Việt Nam lưu vong tỵ nạn, chưa một lần về thăm lại quê hương. Quê hương từ ngày quay gót ra đi, đã bao lần ngoái nhìn về cố xứ, quê hương từ ngày “tiễn khách sầu xa quê”, “nhìn mây trời giăng mắc. Rừng xanh chắn nẻo về” hình như không bao giờ vơi nguôi trong đoái tưởng của nhà thơ.

Trong thi phẩm Từ Giòng Sông Trăng, tác giả đã lấy hình ảnh Rừng Xanh để ẩn dụ về một quê hương còn nhiều nghịch lý, bất trắc, còn những tráo trở, bất an, chưa đủ an toàn cho một ngày sum họp hoan ca của những người con lưu lạc. Trong tâm hồn nhà thơ, ước vọng một ngày về vẫn là “Nửa đời cơn mộng huyễn. Tuyết sương chắn nẻo về” (Vầng Trăng Cổ Độ), và cứ như thế quê hương và ngày về như một ray rứt, một ám ảnh không rời.
Băn khoăn với những gì có hôm qua, với những gì mất hôm nay, thời gian và lẽ biến thiên của cuộc nhân sinh tại thế - quê hương đã xa, tuổi trẻ đã mất, người Phật tử thuần thành Tuệ Nga quán triệt cái giả tạm, cái vô thường của cuộc nhân sinh, thơ không còn là tiếng buồn của muộn phiền, ủy mị. Nhà thơ nhìn lại cuộc đời, nhìn vào lẽ đạo để thấy một thực tại phản chiếu, để rồi thấy lòng thanh thoát, an nhiên tự tại, “bởi đã hiểu đời là quán tạm” trên “một chuyến xe đời”, “một vòng tử sinh”, một “bữa tiệc đủ đầy vị chua vị ngọt ”, và có đủ tiếng chim hót, có nắng ban mai - thuở rộn ràng của buổi đầu đời hoa mộng, cho đến ngày sau, chặng cuối, có tiếng vọng đại hồng chung ngân dài, gọi con người tìm về hài hòa an lạc...

Tuệ Nga đã có trên mười tập thơ xuất bản, trong đó tập SUỐI đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa của Văn Học Miền Nam năm 1974. Tác giả đã có hàng mấy chục bài thơ được phổ nhạc; từng cộng tác với nhiều tờ báo, tâïp san, tạp chí tại hải ngoại.
Có thể nói giới nữ-thi-nhân trong làng thơ Việt Nam cận đại, Tuệ Nga là một nhà thơ đã sống trọn cuộc đời với Thơ, cho Thơ và vì Thơ. Bà là một trong số ít ỏi nhà thơ nữ tiêu biểu trong làng thơ Việt Nam hải ngoại và trong nước hiện nay. Bà đã góp vào kho tàng Văn chương Nghệ thuật nước nhà những áng thơ, những tác phẩm có giá trị văn học nhất định.  

Song Nhị
San Jose, 10.2013

***


Wednesday, November 5, 2014

Một Mẩu Chuyện Bên Lề Lịch Sử.











Phật tử biểu tình chống đàn áp Phật giáo

    




 - Thầy Thích Giác Đức thời... trai trẻ

 


- Dân biểu Nguyễn Công Hoan đổ xăng và châm lửa thiêu sống HT Thích Quảng Đức. Bà Ngô Đình Nhu gọi là "nướng người". (Đón đọc một mẩu chuyện bên lề lịch sử (4).

1.
Năm 1963, trong cuộc đấu tranh của Phật giáo chống chế độ Đệ nhất Cộng Hòa của TT Ngô Đình Diệm. Tại Sài Gòn, địa điểm tập họp là chùa Xá Lợi. Hàng ngày có hàng ngàn đến hàng chục ngàn Phật tử đến để nghe đại đức Thích Giác Đức, phát ngôn viên của Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo VN và là diễn giả hùng biện, hàng ngày đăng đàn kêu gọi Phật tử xuống đường rầm rộ lên án “chế độ Diệm-Nhu đàn áp Phật giáo”.

Năm đó gia đình tôi một tuần ba bốn ngày có mặt tham gia để nghe thầy Thích Giác Đức thuyết pháp. Bố tôi làm việc ở ngoại quốc không tham dự ngày nào. Tôi có mặt mỗi ngày vài giờ, không phải để tham gia biểu tình mà để nghe thầy thuyết giảng kêu gọi lật đổ chế độ. Mỗi đêm về nhà tôi đều có viết một ít dòng nhật ký ghi lại những điều nghe được và bày tỏ ý nghĩ của mình.

Tất cả các trang nhật ký đó có một nhận xét của riêng tôi, cho rằng miền Nam đang là một xã hội tự do, so với sự cai trị hà khắc của Cộng sản miền Bắc. Những biến động chính trị lúc bấy giờ đang xói mòn nền tảng ổn định của xã hội, của thể chế chính trị và làm lợi cho Cộng sản. Một người bạn học ở trọ tại nhà tôi, đọc được nhật ký đó phản đối tôi quyết liệt. Anh ta nói rằng tại tôi sống ở thủ đô (Sài Gòn) không về miền quê nên không thấy được người dân bị chèn ép như thế nào. Tôi nói - “tại mày chưa sống ngày nào với Cộng sản nên mày chưa thấy quan tài, chưa rơi nước mắt. Ở đây mày được ăn, được học, được tự do, muốn làm gì thì làm, kể cả chửi chế độ...”. Chúng tôi cãi nhau tung tóe cho tới ngày anh em TT Diệm bị giết, bà chị họ tôi ngồi khóc, bạn tôi lấy làm vui. Tôi buồn, cả nhà tôi buồn. Năm sau bạn tôi nhập ngũ, cuối cùng là Đại úy đại đội trưởng, đánh VC hăng hơn ai hết, đánh tới trận cuối ở Bình Long, trước khi rút về tản hàng ở Long Khánh.

2.
Tôi có một tuyện ngắn, tựa đề “Duyên Nợ Tiền Thân” đã đăng trên báo Chánh Đạo, số Xuân 1994 của nhà báo Nguyên Trung tại San Jose. Truyện này sau đó đăng trên báo điện tử “Thư Viện Hoa Sen” ở Paris, sau được phổ biến trên một số báo in và báo mạng khác.
Khoảng năm 1995-96 tôi gửi truyện ngắn này cho người cháu rể của tôi dạy học cùng trường với thầy Thích Giác Đức ở Boston, tiểu bang Massechussett. Cháu rể tôi trao truyện ngắn đó cho thầy Thích Giác Đức đọc. Đọc xong, thầy phê: Cải lương!! Khi đứa cháu kể tôi nghe, tôi mới nghĩ ra là nội dung truyện trùng hợp với hoàn cảnh của thầy, mà khi viết truyện đó tôi chưa hề biết gì về thầy cả. Sau đứa cháu cho biết thầy đã hoàn tục, đã lấy vợ, có con, sống đời cư sĩ. Tôi có gọi phone thăm hỏi và nói đôi điều ba chuyện với thầy, nhưng tuyệt nhiên tôi không đả động gì đến những chuyện xưa và chuyện nay của thầy. Vào những năm cuối thế kỷ trước (trước năm 2000), thầy có dịp sang San Jose dự đại hội Phật Giáo ở chùa An Lạc, thầy có gọi thăm tôi. Lúc đó không hiểu sao tôi không tìm đến chùa An Lạc gặp, thăm thầy, về sau nghĩ lại tôi ân hận.

Một chi tiết bên lề lịch sử của người thật việc thật có can dự vào một biến cố hệ trọng làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc, để miền Nam bị rơi vào vòng thống trị của chủ nghĩa Cộng sản, sau khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam bị đánh đổ, dẫn tới thảm họa 1975.
Đại đức Thích Giác Đức là một nhân vật nổi bật cùng với Phật giáo Ấn Quang chủ trương triệt hạ chế độ dẫn đến cái chết bi thảm của anh em TT Diệm, đã cho chúng tôi biết nỗi ân hận về sự sai lầm của thầy. Có lần thầy nói cứ mỗi năm đến ngày 2 tháng 11 thầy kêu vợ thầy làm mâm cỗ cúng giỗ và tưởng nhớ anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Thầy từng nói: “Tôi nhận một phần trách nhiệm về cái chết của TT Diệm và ông Ngô Đình Nhu”.

Tôi viết ra những dòng này khi thầy Thích Giác Đức và gia đình đang sinh sống ở Boston. Tôi mong thầy đọc được bài viết ngắn này. Và tôi sẽ thêm vào trong cuốn “Nửa Thế Kỷ Việt Nam”, nếu có dịp in lại lần thứ ba.

Song Nhị
San Jose, ngày 3 tháng 11- 2014

***

3.
Truyện ngắn “Duyên Nợ Tiền Thân”

Đặng Tâm là đứa con thứ sáu trong một gia đình có tám anh em. Tâm xuất gia từ năm lên tám tuổi với hòa Thượng Tuệ Giác, một vị cao tăng tại chùa Long Thọ. Năm ba mươi tuổi, nghĩa là hai mươi năm sau, kể từ ngày Đặng Tâm theo thầy học đạo, chàng nổi tiếng là một sa môn uyên bác về kinh điển của nhà Phật và là người có đức độ khó ai bì kịp.
Từ ngày quy y, Đặng Tâm có pháp danh là Pháp Không. Sư Pháp Không có dáng người thon cao, vẻ mặt quắc thước, sáng sủa. Đôi mắt của nhà sư như ẩn chứa một cái gì vừa ấm áp, vừa mênh mông huyền diệu. Giọng nói trầm trầm, truyền cảm làm cho người đối diện phải đem lòng mến mộ. 
Một lần, sau buổi thuyết pháp về đề tài “luật nhân quả”, thầy về tới tăng phòng thì gặp một người con gái đứng chờ trước cửa. Người thiếu nữ ấy khoảng hai mươi tuổi, ăn mặc theo lối Âu, gương mặt đẹp, sắc sảo, quý phái. Vừa thấy thầy, thiếu nữ chắp tay, cúi đầu:
- Bạch thầy, xin thầy hoan hỉ cho con được vấn đạo.
- Mô Phật, nếu câu hỏi của tín nữ thuộc lãnh vực hiểu biết của bần tăng, bần tăng xin sẵn lòng.

Thiếu nữ cung kính cúi đầu:
- Bạch thầy, theo như bài luật nhân quả mà thầy vừa thuyết giảng, con thấy không phù hợp với những gì đang diễn ra trong xã hội hôm nay. Như kẻ hiền lành thì lại bị đói khổ, bị áp bức.  Kẻ độc ác, gian manh thì lại được giàu có, uy quyền. Người lương thiện thì chết yểu, kẻ hung tàn lại sống lâu. Nếu có luật nhân quả sao lại còn những trái ngược đó?

Sư Pháp Không chậm rãi trả lời:
- Nhân quả là gọi tắt của Nhân Duyên Quả Báo. Nhân Duyên có hòa hợp mới sinh ra Quả. Ví như hạt lúa là Nhân mà hợp với đất, nước, phân bón là Duyên mà sinh ra cây lúa. Về phương diện nhân sinh, người có Nhân từ kiếp trước, hiện tại mới gặp Duyên mà sinh ra Quả. Có người kiếp trước đã gieo Nhân mà mãi đến đời sau, đời sau nữa mới gặp Duyên để thành ra Quả. Bởi lẽ ấy nên có người đời này tu nhân tích đức nhưng lại bị tai họa. Người khác, đời này ác độc, hung tàn mà lại được hưởng giàu sang, quyền quý.
Người tín nữ vẫn tỏ vẻ chưa hài lòng với lời giải thích của sư Pháp Không. Nàng nhỏ nhẹ:
- Bạch Thầy, như vậy là luật nhân quả cũng có kẽ hở? 

Sư Pháp Không vẫn ôn tồn:
- Bởi vì người đời không rõ lẽ ác báo và phúc báo. Nhân Ác trồng ở kiếp này chưa đủ thời gian để thành Quả Ác. Nhân Lành gieo ở kiếp trước chưa đủ thời gian để thành Quả Phước cho đời hiện tại. Tất cả đều là do vòng chuyển hóa của luân hồi định nghiệp. Không có kẻ hở như luật pháp của thế gian. Bánh xe quay nhanh hay chậm thì chỗ ráp nối đến chậm hay nhanh, tùy thuộc vào vòng quay, vào nội tại của người đạp xe. Bánh xe pháp luân tùy thuộc vào Nhân Duyên. Người thanh thản đạp xe chậm rãi, kẻ âu lo đạp xe vội vàng. Người thiện nhiều, nghiệp báo chậm, kẻ ác hung nghiệp báo nhanh. Chậm hay nhanh là do Nhân Duyên. Lành dữ cũng do Nhân Duyên. Nghiệp báo cũng thế. Tựu trung không sớm thì muộn: Nhân nào Quả ấy.
Thiếu nữ ngước lên nhìn nhà sư, hỏi tiếp:
- Bạch thầy, thế nào là lòng từ bi?
- Từ bi là tình thương. Bất cứ là thứ tình thương nào mà người thương biết quên mình, không đòi hỏi một tình thương được trả lại. Từ bi là một thứ vị tha nhân, không vị kỷ, là một thứ cho mà không nhận.
- Bạch thầy, thế nào là cho? Thế nào là nhận?
- Cho là “xả”, nhận là “thọ”. Cho là “vô”, nhận là “hữu”. Cho là vì người, nhận là vì ta.
- Như vậy một người nữ yêu một người nam là “cho” hay là “nhận”.
- Đó là nhận.
- Tại sao?
- Yêu người muốn được người yêu lại, đó là vì yêu mình chứ không phải yêu người.
Vậy thế nào mới được gọi là “yêu người”?
- Hy sinh, quên mình.
- Khó quá.
- Khó, dễ tại tâm sanh. Không khó, không dễ thì tâm diệt.
- Tâm diệt thì được gì?
- Tịnh lạc.
- Thưa thầy, muốn “lạc” mà không muốn “tịnh” được không?
- Muốn có gió mát mà không muốn cành lá lay động, đó là ảo tưởng.
- Tình yêu có tịnh lạc không, thưa thầ
y? 
- Có và không?
- Xin thầy cho thí dụ.
- Nước biển mặn là do chất muối. Muối thành do nước biển. Tình yêu là “dụng”, còn tịnh lạc là “thể”. Bản chất của “dụng” là động. Bản chất của “thể” là tịnh. Đã động thì bất tịnh. Động thì không có Tịnh Lạc.
- Nói như vậy chẳng khác nào khuyên người ta đừng yêu nhau. Nòi giống loài người làm sao tồn tại và phát triển để phụng sự Phật pháp.
- Không phải con người phụng sự Phật pháp, vì Phật pháp vốn là không có. Nói Phật pháp như một thể “hữu” để cho con người dễ hiểu. Đúng ra, Phật pháp phụng sự con người. Phật pháp là phương tiện đưa con người đến sự giải thoát. Khi cứu cánh ấy đã đạt đến thì phương tiện kia không còn.
Người thiếu nữ đứng khoanh tay, xưng tên là Hoàng Bích Vân, nhìn nhà sư rồi nói thật nhỏ:
- Dù sao thì... “em” vẫn muốn cái “tịnh lạc” kia chính là cái “tình yêu” mà em đang mơ ước kiếm tìm.
Sư Pháp Không chắp tay:
- Mô Phật, điều đó ngoài sự hiểu biết của bần tăng. Xin từ biệt.
Nhà sư quay lưng bước về phòng. Bích Vân gọi với theo:
- Thầy..! Thầy!..
Nhưng cánh cửa sau lưng nhà sư đã đóng lại.

***
Hòa thượng Tuệ Giác nhìn môn đệ đệ của mình là sa môn Pháp Không rồi nói:
- Thầy muốn con hoàn tục.
Sư Pháp Không giật mình, sợ hãi:
- Bạch sư phụ xin minh xét cho con.
Hòa thượng Tuệ Giác vẫn giọng ôn tồn. Sư Pháp Không nước mắt đã ràn rụa, nhạt nhòa, quỳ xuống lạy thầy:
- Xin sư phụ hỉ xả. Đừng đuổi con. Con đã nguyện trọn đời nương thân chốn thiền môn.
- Thầy đã nói hết lời rồi. Đó là nghiệp quả của con. Kiếp trước con đã hẹn hò với người ta nên đời này con phải trả, phải làm tròn lời hẹn ước.
Sư Pháp Không năn nỉ:
- Bạch sư phụ, tất cả không phải vì con. Xin sư phụ cho con được nương thân dưới bóng từ bi của sư phụ, của Phật pháp.
- Đừng, con đừng nói thêm nữa. Khi nào con dứt căn duyên, làm xong lời thề ước với người ta, con hãy trở về đây. Còn bây giờ... con về phòng thu xếp. Đừng lại từ giã thầy. Con đi đi. Đóng cửa phòng lại cho thầy.
Nói xong, Hòa thượng kiết già, mắt nhắm nghiền, người cứng như pho tượng. Biết không còn có thể thưa gửi được gì thêm, sư Pháp Không lạy thầy rồi bước ra ngoài, vừa đi vừa khóc.
    
**
Thấm thoát đã hai năm, thời gian đi nhanh quá. Đặng Tâm ở một mình trong một am nhỏ trên mảnh đất của tổ phụ. Chàng vẫn ăn chay, giữ giới, mặc dù giờ đây chàng đã mặc áo đời. Nhiều người trước đây quen biết với gia đình chàng, thấy Đặng Tâm hoàn tục, có ý muốn gả con gái cho chàng. Nhưng chàng đều từ chối. Những lúc ngồi một mình chàng buồn vời vợi. Bạn bè khuyên chàng nên lập gia đình, chàng cự tuyệt. Đặng Tâm muốn được tâm hồn thảnh thơi nhưng đã bị những cô gái quanh vùng đến quấy rầy. Có người đến nghe thầy giảng kinh. Có kẻ đến xin thầy học đàn Tây Ban Cầm. Lại có cô xin được đến nấu cơm, giặt giũ săn sóc... Đặng Tâm khổ sở lắm.

Rồi vào một buổi sáng, Đặng Tâm thay xong y phục, định đến thăm một người bạn thì Bích Vân, cô gái “vấn đạo” cách đây hai năm đột ngột xuất hiện. Vừa nhìn thấy thầy, cô chợt òa lên khóc. 
Đặng Tâm lo lắng: cất tiếng hỏi:
- Cô có gì buồn lắm phải không?
Bích Vân càng khóc lớn hơn, Đặng Tâm nói tiếp:
- Ở đây cô không nên làm thế. Nếu người ta hiểu lầm thì thật là tai hại cho tôi.
Bích Vân nức nở:
- Em đã tìm thầy suốt mấy năm, hôm nay mới gặp. Bây giờ thầy đã hoàn tục, còn sợ gì người ta hiểu lầm nữa.
Đặng Tâm ngạc nhiên:
- Cô tìm tôi? Nhưng để làm gì? 
Bích Vân lau nước mắt. Đôi mắt đẹp và buồn ngước nhìn Đặng Tâm:
- Em... em... không thể sống xa thầy.
Đặng Tâm cố nén cơn giận dữ vừa òa đến:
- Cô có biết vì cô mà tôi phải xuất tự không?
Bích Vân thổn thức:
- Dạ em biết.
- Đã biết mà cô còn tới tìm tôi?
- Em tìm... anh để nói cho anh hay là...

Đặng Tâm xoa tay:
- Cô đừng nói gì cả. Điều mà cô sắp nói không ý nghĩa gì. Không ích lợi gì cho cô và cho tôi. Cũng vì điều cô sắp nói, cô đã làm mà thầy tôi bắt tôi phải hoàn tục. Hai mươi năm tu hành, phút chốc vì cô mà phải uổng phí.
- Giờ đây anh đã về nhà. Cuộc sống của anh đã khác, không lẽ cứ như thế này mãi. Gia đình em giàu có. Nếu chúng ta kết hôn, anh sẽ không còn vất vả nữa.
Đặng Tâm thở dài chán nản:
- Cô vẫn giữ mãi ý định kỳ lạ đó? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến tình ái ở cuộc đời này. Tôi tha thiết xin cô hãy bình tâm trở lại, nếu có thể chúng ta sẽ làm bạn, chứ không thể là vợ chồng.
Bích Vân gắng gượng hỏi:
- Có ai cấm anh lập gia đình đâu.
- Tâm ý của tôi không cho phép.

Không lay chuyển được lòng dạ sắt đá của Đặng Tâm, Bích Vân vô cùng tuyệt vọng, nàng đứng lên quay gót, bước đi như một kẻ không hồn.
Biết không thể ở đây được, Đặng Tâm đóng cửa am, đi tìm một nơi nào đó để được an thân, bình tâm mà tu hành. Trên đường đi, một hôm chàng ghé vào chùa Bửu Tự vấn an sư thúc là Hòa thựơng Pháp Nhãn. Sau khi kể sự việc phải hoàn tục của mình, Đặng Tâm thỉnh cầu sư thúc xin với sư phụ của chàng để trở về chùa cũ. Hòa Thượng ngồi tịnh một giờ lâu rồi mở mắt nhìn Đặng Tâm:
- Oan nghiệt! Đó là oan nghiệt, là tiền căn.

Đặng Tâm xin sư thúc chỉ rõ. Hòa thượng Pháp Nhãn chậm rãi nói:
- Ngươi đã có ấn chứng, sao không dùng mà soi lại tiền kiếp của mình.
Đặng Tâm như sực tỉnh, nhưng chàng vẫn thưa:
- Nhưng còn cô gái Bích Vân, thưa sư thúc.
- Cứ ngồi định tâm, thầy sẽ giúp cho.

Chàng ngồi vào nệm cỏ, buông xả hết mọi ưu tư, tạp tưởng. Một lúc, Đặng Tâm thấy một luồng thanh điển đưa chàng đến một nơi xa lạ. Đăng Tâm thấy mình là một thầy tu, đem lòng yêu thương một thiếu nữ con nhà giàu có. Chàng trốn chùa về ở với người con gái đó. Được vài năm, hạnh phúc đang tràn đầy thì người con gái đó chết. Chàng quá thương tiếc, thề suốt đời ở vậy, không tục huyền. Người đó là Bích Vân kiếp này.

Khi biết rõ tiền căn duyên nợ, chàng thở dài, mở mắt. Vị sư thúc của chàng an ủi:
- Bây giờ, một là con lấy nàng, hai là con phải ở vậy cho tới suốt đời. Nếu lấy nàng, trả hết nợ tiền căn con mới được quy tự, tiếp tục tu hành. Nếu không, con phải sống một cuộc đời nửa tăng nửa tục. Kiếp sau nữa con vẫn phải tái sanh mà kết duyên tơ tóc với nàng. Sẽ cứ như vậy mãi. Con đường giải thoát của con còn bất tận.
Đặng Tâm phiền muộn vô cùng.

Từ đó thỉnh thoảng người ta thấy chàng thanh niên tuấn tú ấy xuất hiện, nay tới chùa này, mai tới chùa khác để “soi căn” cho những bá tánh thỉnh cầu. Trong lời “soi căn”, chàng dùng những ẩn ngữ sâu xa, diễn tả bằng thể văn vần song thất lục bát. Lời ngâm đều, chậm, mang những dư âm buồn man mác xa xôi. 

Cũng vì căn duyên tiền định, Bích Vân vẫn lâu lâu tìm gặp Đặng Tâm một lần, dù chỉ để nhìn nhau một thoáng, nói vài câu van xin và nghe mấy lời cự tuyệt. Nhưng hình ảnh cô gái diễm kiều này đã dần dần len vào tâm tưởng Đặng Tâm. Lần gặp lại Bích Vân mới đây chàng đã có những lời lẽ thân tình gần gũi hơn. Khoảng cách biệt đã dần dần được thu hẹp, để xích lại lằn ranh kết nối của cuộc hẹn hò duyên nợ tiền thân. 
song nhị



Sunday, October 19, 2014

Túp Lều Hạnh Phúc

















           

Người Gác Tù Và Điều
Hạnh Phúc Ngộ Chứng


Đoàn người trở về
từ rừng núi
từ vực sâu
từ hồng hoang
từ bán khai man rợ

Họ tìm thấy ở đó
giữa rẫy nương bìa rừng
một mái nhà nền đất mái tranh 
mấy dãy bàn ọp ẹp
từng hàng ghế chông chênh

Đời bỗng dưng rộn ràng tở mở
xôn xao những cuối tuần 
người vợ gặp lại chồng
đứa con gặp lại cha
những đứa bé lần đầu gặp mặt bố
những bà mẹ lưng còng tóc úa
tìm gặp lại thằng con
những tiếng nói nấc nghẹn lưng chừng
những dòng nước mắt tuôn
từng trái tim phập phồng òa vỡ

Ở đó
những cặp mắt trao nhau
ân tình bốc lửa
có những cái chạm tay
cảm xúc rung lên từng nhịp thở
theo luồng hơi
tóc bay

Rạo rực hơn phút đầu đời luyến ái

những đôi vợ chồng hơn mười năm gặp lại
ba mươi phút thăm nuôi
mười năm chờ đợi
một phút giây
một đời người
nơi nhà thăm nuôi
- túp lều hạnh phúc!

Ở đó
có tiếng cười hòa trong tiếng khóc
có hũ muối. bọc đường. viên thuốc
có ký gạo. gói mì. bịch ớt. hũ tiêu
từ tấm lòng bà mẹ chắt chiu
từ trái tim người vợ hiền
tận tụy
thương yêu
tháng ngày dành dụm

Ở đó
có phút giã từ bịn rịn
có phút chia tay không bến hẹn tương phùng
người khuất mờ sau lớp sóng đại dương
người vĩnh viễn ven rừng quê ở lại

Ở đó
người gác tù tự hỏi
trăn trở
nghĩ suy
nghĩ về từng khẩu hiệu huênh hoang
ba đời cố nông
ba đời ở đợ
Vinh quang trong mảnh áo vàng
tiếp đời cùng khổ
Không nghĩa phu thê
Không tình phụ tử
Đạo đức nhân luân vô sản cả linh hồn

Ở đó
người gác tù nhìn thấy giả chân
bỗng ngộ chứng ra điều hạnh phúc.

song nhị
(trích “Tiếng Hót Loài Chim Di”)




Saturday, August 9, 2014

THƯ NGỎ - NGUỒN Magazine





              
                                                                                             


















Ngày 02 tháng 8 năm 2014                 
                                   
Kính thưa quý ân nhân, bạn đọc, tác giả, văn thi hữu và thân hữu, 

Để chuẩn bị cho Nguồn số Xuân Ất Mùi 2015, đánh dấu 40 năm Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, đất nước bị đặt dưới ách thống trị của thể chế độc tài Cộng Sản. Hơn hai triệu người Việt phải tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, sống khắp nơi trên lãnh thổ các quốc gia ở hải ngoại, Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn và tạp chí NGUỒN quyết định sẽ ấn hành số báo đặc biệt để đánh dấu chặng đường 40 năm lưu cư nơi đất khách quê người; 40 năm, sau cơn ác mộng hãi hùng vượt biển, vượt biên, tù tội… thế hệ Thuyền Nhân, H.O giờ đây đã cùng với các thế hệ con cháu chúng ta gặt hái được những thành quả lớn lao, ngoài sự mong muốn từ những ngày đầu bỏ nước ra đi.  
Để có thể hoàn thành mỹ mãn Nguồn/ Xuân 2015 trong Hành Trình Văn Học và Lịch Sử Của 40 Năm Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại, vươn dậy với thành tựu từ hai bàn tay trắng… ngỏ hầu lưu lại cho văn học mai sau những tài liệu sống của hôm nay, chúng tôi mạnh dạn gởi thư này đến quý vị và bạn đọc.  

Chủ đề của Nguồn Xuân Ất Mùi 2015, do đó là một đề tài phong phú, nhằm ghi lại những bước đi, ước vọng và thành quả của mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi đoàn thể, mỗi ngành nghề, mỗi lãnh vực của cộng đồng chúng ta trong 40 năm qua.
Độc giả và quý văn thi hữu có thể khai thác mọi đề tài, trình bày hành trình, kỷ niệm và thành tựu của gia đình, của chính mình và thành đạt của các con cháu, cùng cảm nghĩ về những Mất/Được trong đời sống nơi xứ lạ quê người, dù chúng ta đã là công dân của xứ sở quê hương thứ hai Tự do, Sung túc, Hùng mạnh và Vĩ đại này.

Là một Tổ chức Bất Vụ Lợi,  chúng tôi kêu gọi lòng hảo tâm của quý ân nhân, bạn đọc và quý văn thi hữu yểm trợ bài vở cũng như ấn phí cho số báo này. Mọi sự yểm trợ của quý vị (từ 80 USD trở lên) chúng tôi sẽ gửi biên nhận để quý vị trừ thuế theo quy định của Sở Thuế Liên Bang IRS.
Xin quý tác giả, ân nhân bạn đọc gửi bài vở và phiếu yểm trợ cho Ban Biên Tập hạn chót ngày 15 tháng 11, 2014.  Báo sẽ ấn hành vào dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi 2015.

Xin trân trọng cảm ơn và kính chào quý vị.
Kính chúc quý vị cùng thân quyến an khang, may lành và thịnh vượng.


Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn
Ban Biên Tập NGUỒN

 

PHIẾU YỂM TRỢ


Tạp Chí NGUỒN Xuân Ất Mùi 2015

Đáp ứng lời kêu gọi của Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn, tôi đồng ý yểm trợ việc ấn hành Tạp chí Nguồn số Xuân 2015 và đóng góp:
  10.USD đặt mua một số báo (+ $2 cước phí)
   ($…..............……) mua ủng hộ  (…...........  số)
   Mua ủng hộ  từ  2  quyển  trở lên, miễn cước phí.  
  ủng hộ với tư cách mạnh thường quân ($………....…..)

Yêu cầu gửi báo về địa chỉ sau đây:

Ông/Bà : ............................................................................................................................................................
Địa chỉ : .............................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................................................        

------------------------------------------------------------------
CSTV CỘI NGUỒN/ NGUỒN Magazine
P.O.Box 3648  San Jose, CA 95156-3648 USA
E-mail: tapchinguon@yahoo.com - 

Ngân phiếu xin ghi: CSTV Coi Nguon
Gửi về địa chỉ: Tap Chi NGUON
P. O. Box 3648 - San Jose, CA 95156-3648 - USA




Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...