Tuesday, September 27, 2011

Thơ Tình Song Nhị

Khúc Ca Dao Tình


Phải là em đến hay không
Ðể tôi biết chắc mùa Ðông qua rồi

Hình như cây cỏ trên đồi
Hẹn nhau một lượt trổ chồi lộc non

Phải là nhịp gõ guốc dòn
Xôn xao lối lạ thuở tròn trăng xưa

Phải là một buổi chiều mưa
Ðể tôi chung nón che đưa em về

Phải em đến buổi trưa Hè
Rừng hoa bướm lượn đứng mê mải nhìn

Phải câu thơ viết rất tình
Bởi tôi biết chắc rằng mình yêu thơ

Phải là một buổi vào Thu
Ðể tôi gọi gió về ru lá vàng

Bao nhiêu hoa lá trên ngàn
Gọi nhau mở hội hẹn nàng bến Xuân.

(Thi phẩm Về Lồi Đi Xưa, 4-97)

Truyện

DUYÊN NỢ TIỀN THÂN

Đặng Tâm là đứa con thứ sáu trong một gia đình có tám anh em. Tâm xuất gia từ năm lên tám tuổi với hòa Thượng Tuệ Giác, một vị cao tăng tại chùa Long Thọ. Năm ba mươi tuổi, nghĩa là hai mươi năm sau, kể từ ngày Đặng Tâm theo thầy học đạo, chàng nổi tiếng là một sa môn uyên bác về kinh điển của nhà Phật và là người có đức độ khó ai bì kịp.

Từ ngày quy y, Đặng Tâm có pháp danh là Pháp Không. Sư Pháp Không có dáng người thon cao, vẻ mặt quắc thước, sáng sủa. Đôi mắt của nhà sư như ẩn chứa một cái gì vừa ấm áp, vừa mênh mông huyền diệu. Giọng nói trầm trầm, truyền cảm làm cho người đối diện phải đem lòng mến mộ. 
Một lần, sau buổi thuyết pháp về đề tài “luật nhân quả”, thầy về tới tăng phòng thì gặp một người con gái đứng chờ trước cửa. Người thiếu nữ ấy khoảng hai mươi tuổi, ăn mặc theo lối Âu, gương mặt đẹp, sắc sảo, quý phái. Vừa thấy thầy, thiếu nữ chắp tay, cúi đầu:
- Bạch thầy, xin thầy hoan hỉ cho con được vấn đạo.
- Mô Phật, nếu câu hỏi của tín nữ thuộc lãnh vực hiểu biết của bần tăng, bần tăng xin sẵn lòng.

Thiếu nữ cung kính cúi đầu:
- Bạch thầy, theo như bài luật nhân quả mà thầy vừa thuyết giảng, con thấy không phù hợp với những gì đang diễn ra trong xã hội hôm nay. Như kẻ hiền lành thì lại bị đói khổ, bị áp bức.  Kẻ độc ác, gian manh thì lại được giàu có, uy quyền. Người lương thiện thì chết yểu, kẻ hung tàn lại sống lâu. Nếu có luật nhân quả sao lại còn những trái ngược đó?

Sư Pháp Không chậm rãi trả lời:
- Nhân quả là gọi tắt của Nhân Duyên Quả Báo. Nhân Duyên có hòa hợp mới sinh ra Quả. Ví như  hạt lúa là Nhân mà hợp với đất, nước, phân bón là Duyên mà sinh ra cây lúa. Về phương diện nhân sinh, người có Nhân từ kiếp trước, hiện tại mới gặp Duyên mà sinh ra Quả. Có người kiếp trước đã gieo Nhân mà mãi đến đời sau, đời sau nữa mới gặp Duyên để thành ra Quả. Bởi lẽ ấy nên có người đời này tu nhân tích đức nhưng lại bị tai họa. Người khác, đời này ác độc, hung tàn mà lại được hưởng giàu sang, quyền quý.

Người tín nữ vẫn tỏ vẻ chưa hài lòng với lời giải thích của sư Pháp Không. Nàng nhỏ nhẹ:
- Bạch Thầy, như vậy là luật nhân quả cũng có kẽ hở? 
Sư Pháp Không vẫn ôn tồn:
- Bởi vì người đời không rõ lẽ ác báo và phúc báo. Nhân Ác trồng ở kiếp này chưa đủ thời gian để thành Quả Ác. Nhân Lành gieo ở kiếp trước chưa đủ thời gian để thành Quả Phước cho đời hiện tại. Tất cả đều là do vòng chuyển hóa của luân hồi định nghiệp. Không có kẻ hở như luật pháp của thế gian. Bánh xe quay nhanh hay chậm thì chỗ ráp nối đến chậm hay nhanh, tùy thuộc vào vòng quay, vào nội tại của người đạp xe. Bánh xe pháp luân tùy thuộc vào Nhân Duyên. Người thanh thản đạp xe chậm rãi, kẻ âu lo đạp xe vội vàng. Người thiện nhiều, nghiệp báo chậm, kẻ ác hung nghiệp báo nhanh. Chậm hay nhanh là do Nhân Duyên. Lành dữ cũng do Nhân Duyên. Nghiệp báo cũng thế. Tựu Trung không sớm thì muộn: Nhân nào Quả ấy.

Thiếu nữ  ngước lên nhìn nhà sư, hỏi tiếp:
- Bạch thầy, thế nào là lòng từ bi?
- Từ bi là tình thương. Bất cứ là thứ tình thương nào mà người thương biết quên mình, không đòi hỏi một tình thương được trả lại. Từ bi là một thứ vị tha nhân, không vị kỷ, là một thứ cho mà không nhận.
- Bạch thầy, thế nào là cho? Thế nào là nhận?
- Cho là “xả”, nhận là “thọ”. Cho là “vô”, nhận là “hữu”. Cho là vì người, nhận là vì ta.
- Như vậy một người nữ yêu một người nam là “cho” hay là “nhận”.
- Đó là nhận.
- Tại sao?
- Yêu người muốn được người yêu lại, đó là vì yêu mình chứ không phải yêu người

Vậy thế nào mới được gọi là “yêu người”?
- Hy sinh, quên mình.
- Khó quá.
- Khó, dễ tại tâm sanh. Không khó, không dễ thì tâm diệt.
- Tâm diệt thì được gì?
- Tịnh lạc.
- Thưa thầy, muốn “lạc” mà không muốn “tịnh” được không?
- Muốn có gió mát mà không muốn cành lá lay động, đó là ảo tưởng.
- Tình yêu có tịnh lạc không? 
- Có và không?
- Xin thầy cho thí dụ.
- Nước biển mặn là do chất muối. Muối thành do nước biển. Tình yêu là “dụng”, còn tịnh lạc là “thể”. Bản chất của “dụng” là động. Bản chất của “thể” là tịnh. Đã động thì bất tịnh. Động thì không có Tịnh Lạc.
- Nói như vậy chẳng khác nào khuyên người ta đừng yêu nhau. Nòi giống loài người làm sao tồn tại và phát triển để phụng sự Phật pháp.
- Không phải con người phụng sự Phật pháp, vì Phật pháp vốn là không có. Nói Phật pháp như một thể “hữu” để cho con người dễ hiểu. Đúng ra, Phật pháp phụng sự con người. Phật pháp là phương tiện đưa con người đến sự giải thoát. Khi cứu cánh ấy đã đạt đến thì phương tiện kia không còn.

Người thiếu nữ đứng khoanh tay, xưng tên là Hoàng Bích Vân, nhìn nhà sư rồi nói thật nhỏ:
- Dù sao thì... “em” vẫn muốn cái “tịnh lạc” kia chính là cái “tình yêu” mà em đang mơ ước kiếm tìm.
Sư Pháp Không chắp tay:
- Mô Phật, điều đó ngoài sự hiểu biết của bần tăng.
- Xin từ biệt.
Nhà sư quay lưng bước về phòng. Bích Vân gọi với theo:
- Thầy..! Thầy!..
Nhưng cánh cửa sau lưng nhà sư đã đóng lại.

**
Hòa thượng Tuệ Giác nhìn môn đệ đệ của mình là sa môn Pháp Không rồi nói:
- Thầy muốn con hoàn tục.
Sư Pháp Không giật mình, sợ hãi:
- Bạch sư phụ xin minh xét cho con.
Hòa thượng Tuệ Giác vẫn giọng ôn tồn:
- Sư Pháp Không nước mắt đã ràn rụa, nhạt nhòa, quỳ xuống lạy thầy:
- Xin sư phụ hỉ xả. Đừng đuổi con. Con đã nguyện trọn đời nương thân chốn thiền môn.
- Thầy đã nói hết lời rồi. Đó là nghiệp quả của con. Kiếp trước con đã hẹn hò với người ta nên đời này con phải trả, phải làm tròn lời hẹn ước.

Sư Pháp Không năn nỉ:
- Bạch sư phụ, tất cả không phải vì con. Xin sư phụ cho con được nương thân dưới bóng từ bi của sư phụ, của Phật pháp.
- Đừng, con đừng nói thêm nữa. Khi nào con dứt căn duyên, làm xong lời thề ước với người ta, con hãy trở về đây. Còn bây giờ... con về phòng thu xếp. Đừng lại từ giã thầy. Con đi đi. Đóng cửa phòng lại cho thầy.
Nói xong, Hòa thượng kiết già, mắt nhắm nghiền, người cứng như pho tượng. Biết không còn có thể thưa gửi được gì thêm, sư Pháp Không lạy thầy rồi bước ra ngoài, vừa đi vừa khóc.
   
**
Thấm thoát đã hai năm, thời gian đi nhanh quá. Đặng Tâm ở một mình trong một am nhỏ trên mảnh đất của tổ phụ. Chàng vẫn ăn chay, giữ giới, mặc dù giờ đây chàng đã mặc áo đời. Nhiều người trước đây quen biết với gia đình chàng, thấy Đặng Tâm hoàn tục, có ý muốn gả con gái cho chàng. Nhưng chàng đều từ chối. Những lúc ngồi một mình chàng buồn vời vợi. Bạn bè khuyên chàng nên lập gia đình, chàng cự tuyệt. Đặng Tâm muốn được tâm hồn thảnh thơi nhưng đã bị những cô gái quanh vùng đến quấy rầy. Có người đến nghe thầy giảng kinh. Có kẻ đến xin thầy học đàn Tây Ban Cầm. Lại có cô xin được đến nấu cơm, giặt giũ săn sóc...Đặng Tâm khổ sở lắm.

Vào một buổi sáng, Đặng Tâm thay xong y phục, định đến thăm một người bạn thì Bích Vân, cô gái “vấn đạo” cách đây hai năm đột ngột xuất hiện. Vừa nhìn thấy thầy, cô chợt òa lên khóc. 
Đặng Tâm lo lắng: cất tiếng hỏi:
- Cô có gì buồn lắm phải không?
Bích Vân càng khóc lớn hơn, Đặng Tâm nói tiếp:
- Ở đây cô không nên làm thế. Nếu người ta hiểu lầm thì thật là tai hại cho tôi.
Bích Vân nức nở:
- Em đã tìm thầy suốt mấy năm, hôm nay mới gặp. Bây giờ thầy đã hoàn tục, còn sợ gì người ta hiểu lầm nữa.
Đặng Tâm ngạc nhiên:
- Cô tìm tôi? Nhưng để làm gì? 
Bích Vân lau nước mắt. Đôi mắt đẹp và buồn ngước nhìn Đặng Tâm:
- Em...em...không thể sống xa thầy.
Đặng Tâm cố nén cơn giận dữ vừa òa đến:
- Cô có biết vì cô mà tôi phải xuất tự không?
Bích Vân thổn thức:
- Dạ em biết.
- Đã biết mà cô còn tới tìm tôi?
- Em tìm...anh để nói cho anh hay là...

Đặng Tâm xoa tay:
- Cô đừng nói gì cả. Điều mà cô sắp nói không ý nghĩa gì. Không ích lợi gì cho cô và cho tôi. Cũng vì điều cô sắp nói, cô đã làm mà thầy tôi bắt tôi phải hoàn tục. Hai mươi năm tu hành, phút chốc vì cô mà phải uổng phí.
- Giờ đây anh đã về nhà. Cuộc sống của anh đã khác, không lẽ cứ như thế này mãi. Gia đình em giàu có. Nếu chúng ta kết hôn, anh sẽ không còn vất vả nữa.
Đặng Tâm thở dài chán nản:
- Cô vẫn giữ mãi ý định kỳ lạ đó? Tôi chưa bao giờ nghĩ đến tình ái ở cuộc đời này. Tôi tha thiết xin cô hãy bình tâm trở lại, nếu có thể chúng ta sẽ làm bạn, chứ không thể là vợ chồng.
Bích Vân gắng gượng hỏi:
- Có ai cấm anh lập gia đình đâu.
- Tâm ý của tôi không cho phép.
Không lay chuyển được lòng dạ sắt đá của Đặng Tâm, Bích Vân vô cùng tuyệt vọng, nàng đứng lên quay gót, bước đi như một kẻ không hồn.

Biết không thể ở đây được, Đặng Tâm đóng cửa am, đi tìm một nơi nào đó để được an thân, bình tâm mà tu hành. Trên đường đi, một hôm chàng ghé vào chùa Bửu Tự vấn an sư thúc là Hòa thựơng Pháp Nhãn. Sau khi kể sự việc phải hoàn tục của mình, Đặng Tâm thỉnh cầu sư thúc xin với sư phụ của chàng để trở về chùa cũ. Hòa Thượng ngồi tịnh một giờ lâu rồi mở mắt nhìn Đặng Tâm:
- Oan nghiệt! Đó là oan nghiệt, là tiền căn.

Đặng Tâm xin sư thúc chỉ rõ. Hòa thượng Pháp Nhãn chậm rãi nói:
- Ngươi đã có ấn chứng, sao không dùng mà soi lại tiền kiếp của mình.
Đặng Tâm như sực tỉnh, nhưng chàng vẫn thưa:
- Nhưng còn cô gái Bích Vân, thưa sư thúc.
- Cứ ngồi định tâm, thầy sẽ giúp cho.

Chàng ngồi vào nệm cỏ, buông xả hết mọi ưu tư, tạp tưởng. Một lúc, Đặng Tâm thấy một luồng thanh điển đưa chàng đến một nơi xa lạ. Đăng Tâm thấy mình là một thầy tu, đem lòng yêu thương một thiếu nữ con nhà giàu có. Chàng trốn chùa về ở với người con gái đó. Được vài năm, hạnh phúc đang tràn đầy thì người con gái đó chết. Chàng quá thương tiếc, thề suốt đời ở vậy, không tục huyền. Người đó là Bích Vân kiếp này.

Khi biết rõ tiền căn duyên nợ, chảng thở dài, mở mắt. Vị sư thúc của chàng an ủi:
- Bây giờ, một là con lấy nàng, hai là con phải ở vậy cho tới suốt đời. Nếu lấy nàng, trả hết nợ tiền căn con mới được quy tự, tiếp tục tu hành. Nếu không, con phải sống một cuộc đời nửa tăng nửa tục. Kiếp sau nữa con vẫn phải tái sanh mà kết duyên tơ tóc với nàng. Sẽ cứ như vậy mãi. Con đường giải thoát của con còn bất tận.

Đặng Tâm phiền muộn vô cùng.
Từ đó thỉnh thoảng người ta thấy chàng thanh niên tuấn tú ấy xuất hiện, nay tới chùa này, mai tới chùa khác để “soi căn” cho những bá tánh thỉnh cầu. Trong lời “soi căn”, chàng dùng những ẩn ngữ sâu xa, diễn tả bằng thể văn vần song thất lục bát. Lời ngâm đều, chậm, mang những dư âm buồn man mác xa xôi. 

Cũng vì căn duyên tiền định, Bích Vân vẫn lâu lâu tìm gặp Đặng Tâm một lần, dù chỉ để nhìn nhau một thoáng, nói vài câu van xin và nghe mấy lời cự tuyệt. Nhưng hình ảnh cô gái diễm kiều này đã dần dần len vào tâm tưởng Đặng Tâm. Lần gặp lại Bích Vân mới đây chàng đã có những lời lẽ thân tình gần gũi hơn. Khỏang cách biệt đã dần dần được thu hẹp, để xích lại lằn ranh kết nối của cuộc hẹn hò duyên nợ tiền thân. 
song nhị

Thursday, September 15, 2011

Tiễn Người, Ta Khóc


                     HÀ THƯỢNG NHÂN
Họa bài Người Về của Song Nhị
           
Có bẽ bàng cho nguời ngã xuống
Tự do chẳng nói để mà chơi
                     HÀ THƯỢNG NHÂN
           

Người về. Ta bỗng nghe đau đớn
Xé nát từ đây một chữ tình
Xương máu chẳng hề vì lý tưởng
Mà là thiết thực chuyện mưu sinh

Người về để đổi thù ra bạn
Tiếng thét người dân có bão bùng
Người ngoảnh mặt đi không biết đến
Mặc cho sóng gió bốn bề rung

Người về! Nơi đó là quê mẹ
Ta nhớ như nhau suốt cuộc đời
Quê mẹ bây giờ là xứ lạ
Lưu đày trên đất lạ mà chơi!

Người về. Như thế mà về được
Nếm miếng canh thừa liệu có chua?
Người vẫn đô la còn nặng túi
Việc gì chúng nó nỡ lòng xua?

Người về. Ta thực tình thương hại
Tiếng tự do gào đã đứt hơi
Mảnh áo cà sa còn vấy máu
Làm sao có thể nói nên lời

Làm sao dám viết cho dân tộc?
Chén rượu bên hè dưới ánh trăng
Có thẹn lời thề năm tháng cũ?
Có nghe tiếng ngựa hý âm vang?

Người về. Ta nói gì thêm nữa
Có nói càng thêm thấy bẽ bàng
Đào ngũ chẳng trong thời loạn lạc
Bây giờ lại trở lối sang ngang!

Ta thương thơ cũ người từng viết
Mới biết không đâu cũng đoạn trường
Trước mặt kẻ thù kêu bạn thiết
Nỡ nào ta viết chữ bi thương.

HÀ THƯỢNG NHÂN

Người Về

Thơ Song Nhị

Người về. Ừ nhỉ về mà thấy
dấu vết tan hoang của cuộc tình
thuở ấy nguời trong vai vệ sĩ
đã thề quyết tử để tồn sinh

Người về mở hội vui bầu bạn
mặc gió mưa đang cứ bão bùng
dòng nước chảy đau bờ đất rạn
người về cao hứng tiếng thơ rung!

Người về. Ừ nhỉ về mà hưởng
phú quý vinh hoa hậu đổi đời
đã khuất nẻo rồi thời bão loạn
sá gì vàng đỏ một trò chơi!

Người về kẻ đợi người đưa đón
mừng rỡ thay vì tiếng mặn chua
rủng rỉnh đồng đô la nặng túi
dại gì ai kẻ đuổi người xua

Con chiến mã nằm trong ngõ tối
mang thân què cụt thở từng hơi
xác xơ nắm cỏ vàng cơm áo
mà vẫn còn nguyên vẹn ý lời

Vẫn uống nước bùn bên suối cạn
vẫn mơ thanh kiếm dưới vầng trăng
hai vai trĩu nặng thời vinh nhục
vẫn ngẩng cao đầu lộng hí vang

Còn ta đứng ngó đời. Hoài niệm
khóc gió than mây nỗi bẽ bàng
khóc mối tình xưa đành lỗi đạo
cúi đầu bỏ cuộc bước sang ngang

Người về nét chữ nhòe trang sách
gió bụi mù tung chốn hí trường
bút mực bỗng dưng buồn đọng lại
tình đời vân cẩu vẽ tang thương!!

***

Monday, September 5, 2011

Ngũ Ngôn 2


RỪNG VÀ TRĂNG

Đêm nay trăng một nửa *
Một nửa hồn chơi vơi
Lao xao từng nỗi nhớ
Bóng em cuối chân trời

Ta còn đây một nửa
Một nửa đời chia xa
Bóng em và bóng ảo
Che khuất phía quê nhà

Con ngựa hoang biên ải
Mỏi vó nơi xứ người
Trên yên cương chiến mã
Vệt máu còn đỏ tuơi

**
Ngưạ bây giờ gặm cỏ
Bên cánh rừng. già nua
Em bây giờ tiếc nuối
Mùa trăng thuở hẹn hò

Ta và con chiến mã
Mang thương tích. bỏ rừng
Em và vầng trăng lạc
Tìm nhau. hồn rưng rưng

Rừng và Trăng ở lại
Ta và Em rồi xa
Bâng khuâng chiều lữ thứ
Chia nhau bóng nguyệt tà.

songnhị
20 tháng 7/2008

-----------------------------
*thơ Thảo Chi

Ngũ Ngôn 1

MỘT NGÀY MÙA HẠ
Ở SAN FRANCISCO

Kính tặng thân phụ
nhân dip người du lịch
Hoa Kỳ thăm con cháu
=
Tôi đến “Xan-Phơ-Răng”
Giữa trưa trời sẫm tối
Sương phủ mờ . dốc cao
Người đông như trẩy hội

Mặt biển mờ mờ xa
đàn hải âu nghiêng cánh
từng cánh buồm lướt qua
gió hiu hiu thấm lạnh

Đứng bên này eo biển
nhìn sang bên kia bờ
từng nhịp cầu lơ lửng
còn đọng hồn người xưa

Người xưa ơi, Strauss (*)
mãi mãi dòng thời gian
tim óc người vô tận
trên đường nét kỳ quan

Tôi đến San Fran
con đường ngoằn dốc thoải
như bầy cua bò ngang
đoàn xe quành rỗi rãi

Xuống thấp rồi lên cao
bốn hướng vòng xuôi ngược
những con đường dọc ngang
dập dờn như sóng nước

Từng dãy phố chập chùng
xếp chồng bên vách núi
bàn tay nào vẽ nên
thiên nhiên nào diệu vợi?


Tôi đến San Fran
bỗng nhòe, đôi mắt ướt
trông qua Thái Bình Dương
tưởng chừng như đứt ruột ...

song nhị
14/7/2001

(*) Strauss, kỹ sư thiết kế và thực hiện cầu Golden Gate,
một trong bảy kỳ quan của nhân loại.

Wednesday, August 24, 2011

Trần Khải Thanh Thủy


Đến với Cội Nguồn
 
Xe bắt đầu xuất phát khỏi nhà lúc 10 giờ sáng, phải mấy tiếng đồng hồ sau (ngày 14/8/2011) tôi mới đến gặp anh chị em trong cơ sở Thi Văn Cội Nguồn, vậy mà từ lúc ra khỏi nhà, đầu óc tôi đã hướng cả về Cội Nguồn rồi... Tôi nhớ những đêm nằm trong trại giam, co ro trên manh chiếu rách, trong phạm vi chật hẹp 60 cm2 (như thời Đức quốc xã hoặc Stalin), mười đêm thì 5, 6 đêm tôi không sao ngủ được.
Để đầu óc không bị quay cuồng bởi bao nhiêu điều nhiễu nhương, khốn nạn do vụ án oan nghiệt mà lũ chó ác (c.a) của đảng cộng sản gây ra, tôi đành “thả hồn đi hoang” tìm về những vùng miền ký ức tươi tắn, êm đềm nhất, vừa ru dỗ tâm hồn, vừa để kéo giấc ngủ sớm đến với mình. Một trong những câu thơ mà tôi thường xuyên lặp đi lặp lại trong đầu  là:

Đừng rơi, đừng rơi lá ơi
Có ai góc biển, chân trời nhớ nhau?

Câu thơ như một lời thần chú, mở toang cánh cửa ký ức trong tôi (như thể câu thần chú của Ali baba trước hang thần chứa đầy vàng bạc châu báu):  “Vừng ơi mở cửa ra”. Còn tôi, hễ đọc đến câu thơ này là hình ảnh của anh chị em trong Cội Nguồn sáng lên trong trí nhớ. Tôi nhớ tới người đầu tiên đã tin cậy dẫn dắt tôi vào ngôi nhà Cội Nguồn là anh Song Nhị qua một cuộc thi truyện ngắn trên Việt No (vietno.com) của Na Uy mà anh được mời làm chánh giám khảo. Cả 7 chuyện ngắn tôi gửi đi đều lọt vào “mắt xanh” của anh và được đưa vào tuyển tập: “Bản hợp tấu”. Ngay sau đó, tôi nhận được lá thư thăm hỏi và chúc mừng của anh.
Như người trên sa mạc khô cằn bị bỏ đói, thiếu thốn cả về nguồn nước, thức ăn, cho nên vừa nhận được tín hiệu vui, tôi hăm hở trả lời. Bức thư được ký tên là Tịnh Hà, do anh viết tắt từ 3 chữ: Hà Viết Tịnh, khiến tôi cứ tưởng là của một phụ nữ (cùng “phái yếu” như mình) ...Kỷ niệm đầu tiên, sự nhầm lẫn thú vị đầu tiên cứ làm tôi nhớ mãi. Rồi cuộc đấu tranh cho một nền dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam lôi tôi đi, kéo tuột tôi vào tù, nhấn chìm cả ước mơ dang dở của  tôi là được in một cuốn sách ở Hải ngoại.
Chính nỗi đau bị bắt, nỗi đau ngồi tù khiến tôi lịm tắt tất cả mọi ước muốn ngoài đời, trừ ước muốn được tự do. Tôi không ngờ ngay sau khi tôi sa vào nanh vuốt đảng, anh Song Nhị đã quyết định làm “bà đỡ” cho tôi (Một tác phẩm gần 400 trang, dày dặn, bề thế nhất trong số hơn 20 tác phẩm của tôi từ trước đến nay, cả trong nước cũng như Hải ngoại). Ấn tượng đầu tiên bao giờ cũng đậm đà, sắc nét, quả thực nó đã ấn tôi thành tượng khi vừa chân ướt chân ráo ra khỏi cửa nhà tù và nhìn thấy cuốn: “Viết từ hang đá, nhỏ lệ cùng dân”. Cho tới giây phút này, tôi cũng không nhớ  mình đã “khóc, cười, thủ thỉ” cùng đứa con tinh thần của mình bao nhiêu lần nữa?   
Ở đời, lòng tốt cho đi rồi không phải bao giờ cũng nhận về lòng tốt, đặc biệt là trường hợp giữa tôi và Cội Nguồn. Ngay khi vừa kịp “cắt rốn”, cất tiếng khóc chào đời đầu tiên ở San Jose, nó đã gây ra bao điều tiếng thị phi do sự hiểu nhầm từ sự tốt “qúa mức cần thiết” của Cội nguồn đem lại. Tốt đến mức người trần, mắt thịt không thể nào tin được, ngờ tới... Chính vì thế mới có chuyện “ù xọe” ầm ĩ. Lòng tốt của Cội nguồn bị hiểu lầm thành “lợi dụng tên tuổi tôi để in sách kiếm lời, tận dụng nỗi đau của tôi trong nhà tù cộng sản để phát hành sách bất hợp pháp” v.v và v.v... Thôi thì cái xảy nảy cái ung, từ sự hiểu lầm ban đầu của chị Bích Huyền, mà phe của bùn đánh nhau với phe của sóng. Cả cơ sở Thi văn Cội Nguồn từ anh Song Nhị, Diên Nghị, nhóm bạn Trần Khải Thanh Thủy như chị Huệ Thu, Lê Diễm, Ngọc Bích, Diễm Hương bị bùn đánh cho tơi tả, vấy bẩn lên khắp mặt, khắp đầu, khắp người cùng quần áo. Bùn nhiều đến mức ông chồng “xã hội chủ nghĩa” của tôi cũng bị “toét mắt” vô tình đứng về phía phe của bùn, hất thêm bùn lên phe của sóng làm tôi phát xấu hổ.
Nào ai ngờ hạnh phúc và nỗi đau đôi khi lại có chung nguồn gốc. Nâng niu đứa con tinh thần trên tay tôi còn phải đèo thêm tai tiếng: “Vì tham mấy nghìn đồng nhuận bút của Cội Nguồn mà tôi biến thành kẻ vô ơn, không biết phân biệt phải trái, tốt xấu, không biết ai là người đã “co kéo” tiền về cho mình, nếu không có họ, liệu Cội Nguồn có chịu trả cho tôi không? v.v và v.v.. Điều khó nói nhất là cả chị Bích Huyền lẫn anh Song Nhị đều đứng về phe nước mắt, đều hành xử như những nhà thơ chân chính, xót thương cho cảnh khổ ải, lao tù của tôi nên muốn tôi phải được nhận về mình những đồng tiền xứng đáng nhất. Song nguồn gốc của mọi sự hiểu lầm lại ở chỗ anh Song Nhị sợ gia đình tôi bị lũ chó ác của đảng gây khó dễ nên đã không công khai số tiền gửi về. Thế là bao cảnh nực cười, gây cấn, khóc dở, mếu dở nổ ra. Theo quy luật của tự nhiên, sóng dù mạnh đến mấy, nhưng trước sự lấn lướt của bùn, cũng có lúc bị chùng xuống để bùn phủ trùm lên trên, huống hồ Cội Nguồn chỉ là những con sóng hiền từ đứng về phe nước mắt nên phải chịu ấm ức suốt một thời gian dài.
Cho đến bây giờ phe của sóng đã hoàn toàn chiến thắng, song lớp bùn cặn vẫn còn đọng dưới đáy và hễ có cớ lại đòi trào lên. Cho dù tôi đã tốn không ít giấy mực để làm sáng tỏ mọi điều, song mọi sự không phải bao giờ cũng như ý muốn. Vì thế trong khi ở tù lần thứ hai, điều làm tôi luôn canh cánh bên lòng là hình ảnh của anh chị em trong Cội Nguồn, những người mà tôi đã nặng lòng yêu mến và biết ơn, mà chưa có cơ hội để bày tỏ sự tri ân. Không ít lần trong những đêm mất ngủ tại trại giam tôi tự nhủ: “Tại sao kỷ niệm giữa tôi và Cội nguồn lại “ngậm ngùi” đến thế, hạnh phúc hòa chung nỗi đau. Hay đó chính là “định mệnh” để tôi tự nguyện bước chân vào ngôi nhà Cội Nguồn? Như câu thơ trong tù tôi thường nhắc:

Trải qua sóng gió bão bùng
Phải chăng hạnh phúc trộn cùng nỗi đau?
Cũng là định mệnh vào nhau
Trước là cay đắng, về sau ngọt bùi...

Sau 21 tháng tù oan nghiệt, hôm nay tôi đã thực sự bước chân vào ngôi nhà Cội Nguồn, gặp những con người bằng xương bằng thịt mà tôi vốn chỉ gặp trên điện thoại hoặc internet do khoảng cách về không gian và thời gian. Ngồi trên xe tôi đã nghĩ và tưởng tượng ra bao điều... Những âm tiết “nở hoa” trong trái tim tôi, tạo thành những tứ thơ mà tôi dự định sẽ nói trong buổi gặp mặt đầy ý nghĩa này... Vậy mà vì tâm trạng, vì sức khỏe, hay vì rụt rè mà tôi đã không kịp nói ra? Không hiểu bệnh tật, tuổi già hay nhà tù cộng sản đã biến tôi thành “Trần Khỉ Thanh Thủy” như thế? Đã là lời thương sao còn ngại ngùng đếm đong? Sao không mạnh dạn nói ra lại “buông chùng” trong tim?
Ở những nơi khác, dù là giữa anh em chiến hữu thân cận ít người, hay  cộng đồng bà con, nơi chốn đông người, tôi còn tán như khiếu, còn đá lưỡi lên tận... vòm họng, thế mà giữa Cội Nguồn, sao tôi như bị ai cắt mất lưỡi? Như một kẻ chân trần bụi bậm đứng trước dòng sông trong vắt không dám lội ào qua, dù đã bao lần thả mắt xuống dòng trong, để về nhà còn ngậm ngùi tiếc nuối...
Thôi thì đành tự an ủi “lời không nói ra là vàng ngọc”. Dù thế nào, dù sức tàn, lực kiệt, nhất định tôi sẽ cố góp một vài giọt nhỏ nhoi trong chõ mật văn chương của Cội Nguồn bên cạnh những tên tuổi đã quen thuộc với bạn đọc như: Song Nhị, Diên Nghị, Huệ Thu, Lê Diễm, Ngọc Bích, Diễm Hương, Triều Nghi, Thanh Thương Hoàng, Nguyễn Trung Dũng, Ấu Tím, Cung Diễm, Lê Đình Cai, Trần Hữu Từ, Duy An Đông, cùng những thân hữu Cội Nguồn: Nguyễn Xuân Hoàng, Trương Gia Vy, Bùi Ngọc Tô, Trương Đình Sửu, Nguyễn Hữu Hãn, Bùi Thanh Tùng, Nguyên Khôi, Thái Phạm, Phạm Bằng Tường, Cao Sơn, Trần Thị Thu, Phạm Chu Ánh, Hoàng Sơn Long, v.v. tôi được gặp hôm đó …
Buổi gặp mặt tuy ngắn ngủi nhưng thực sự làm tôi xúc động, mọi người hồ hởi tiếp đón tôi như đón một người thân lâu ngày gặp lại. Hai anh Song Nhị và Diên Nghị còn “phát biểu cảm tưởng” về sự “tìm về” của tôi, như thể chào đón nàng dâu mới về nhà chồng làm tôi xúc động đến lặng người. Luật sư Nguyễn Hữu Thống còn ví tôi với hai nhân vật nổi trội của nước nhà là chị Dương Thu Hương cùng bà Trần Thụy An. Thú thực, trong suy nghĩ của mình, tôi chỉ dám coi mình là một kẻ bất trị giữa xã hội cộng sản, luôn gieo rắc mầm mống “nổi lọan” trong đám quần chúng thất học vì bị đảng lừa. Cũng may, sự can đảm của tôi đã được mọi người yêu thương đón nhận, sau cả chục năm trời ấp ủ đau thương để sinh nở cái oai hùng...
Vừa “được ăn”, “được nói” tôi còn được “gói đem về” cả chục cuốn “Nguồn” có in tác phẩm của  mình, cùng  sách của hai anh Song Nhị, Diên Nghị và luật sư Nguyễn  Hữu Thống.
Cuộc vui nào cũng đến lúc tàn, 3 giờ chiều cùng ngày tôi ra bến xe đò để trở về, lòng còn dào dạt mãi những âm hưởng vui vẻ, thân mật mà trong cuộc đời không dễ gì có, nhất là đối với một người vốn sống hai phần ba cuộc đời trong bóng tối của độc tài cộng sản như tôi.
Không kịp nói trong cuộc gặp mặt, nên trong suốt hai tiếng đồng hồ chờ xe để về nhà sau đó, trái tim tôi cứ ngân nga mãi những vần thơ ngọt ngào. Thôi đành mượn bút thay lời, gọi là một chút tri âm với anh chị em thi hữu của Cội Nguồn, dù muộn còn hơn không:

Cội Nguồn thật đáng tin yêu
Vì tôi mà đã chịu nhiều xót xa
Trái  tim tôi đủ thiết tha
 Để yêu cả Cội Nguồn và... nỗi đau./.

Sacramento 20-8-2011
Trần Khải Thanh Thủy
(Hội viên)

Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...