Wednesday, February 22, 2012

NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM Ý Kiến. Nhận Định (6)


THANH THƯƠNG HOÀNG - Nhà Văn/ Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả VNCH

1.
Song Nhị dành tất cả đời sống của mình cho “nghiệp” Thơ Văn. Cũng cần nhấn mạnh ở đây là phần lớn thơ văn của Song Nhị đều nói lên nỗi đau của con người, nỗi đau của dân tộc, nỗi đau của đất nước dưới gông cùm cộng sản. Anh đã viết bằng chính máu của mình như lời triết gia Nietzsche khuyên: “D’écrire avec notre propre sang”. 
 
2.
Đọc hết cuốn bút ký tự truyện “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” của Song Nhị dầy trên 400 trang, thú thật tôi đã buồn càng buồn thêm, đã đau càng đau thêm. Tôi thấy tôi, bạn bè tôi (và cả thế hệ tôi) hiển hiện trong cuốn sách. Chẳng biết chúng tôi có “sinh nhầm thế kỷ” không, nhưng điều chắc chắn chúng tôi đã bị đánh mất tuổi trẻ, đã bị cuốn hút vào trận bão thời đại và nhận lãnh những thua thiệt, bất hạnh về mình. Có thể nói cả thế hệ chúng tôi “mộng tan tành”(như lời than của Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn). Nỗi đau này không phải chỉ riêng Song Nhị mà là của tất cả chúng ta - những người sống sót trong cuộc chiến và sau đó trong tù đầy.
                                                                                                                                    
Ở phần kết cuốn sách, Song Nhị có đặt vấn đề là tại sao và nếu như...
Vâng, nếu như không có Hồ Chí Minh, không có đảng cộng sản VN (bọn người buôn ảo mộng, cuồng tín, tàn bạo) thì làm gì có cuộc chiến tranh Việt Nam với con số hơn mấy triệu người hai miền Nam Bắc bị chết, máu chẩy thành sông xương chất thành núi cùng với bao gia đình tan nát đau thương. Và sau gần nửa thế kỷ cuộc chiến chấm dứt, nước mắt vẫn chưa ngưng chẩy. Đất nước bị xâm lấn, dân tộc vẫn quặn mình trong tủi nhục, trong khốn cùng

Theo tôi, cuốn “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” của Song Nhị là những trang sử ghi đậm nét thảm họa của dân tộc ta trong suốt nửa thế kỷ 20. Nỗi đau này biết bao giờ nguôi?
San Jose, 11/2009
Thanh Thương Hoàng
(Việt Tribune, Vol IV. No. 205 April 2-8/ 2010)


DIÊN NGHỊ - Nhà Văn/ nhà Thơ

Sau Hiệp định Geneve 1954, họ Hồ dựng lên bức tường thép che giấu, lấp liếm bạo lực man rợ, thực hiện chính sách tiêu diệt giai cấp trí, địa, phú, hào trên miền Bắc qua chiến dịch đấu tố, gieo tang tóc, đau thương, giết người cướp của hàng vạn lương dân... nhà văn Song Nhị, một nạn nhân, và là chứng nhân trong cuộc, đã cùng gia đình vượt thoát, đã lìa quê quán ra đi từ đó. Và từ đó, ước vọng tự do sáng ngời phía trước của Sài Gòn đang đợi chờ, hứa hẹn.

20 năm sống dưới chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Công Hòa, bản thân người trai Hà Tĩnh đã nổ lực không ngừng, vươn lên cùng ý chí nỗ lực phục vụ, thắp sáng ngời lý tưởng bảo vệ quê hương, không khoan nhượng bất cứ hành động nào của kẻ thù... nhưng cuộc chiến ý thức hệ ngày càng quyết liệt từ tham vọng và bản chất thôn tính của tập đoàn Mác-xít miền Bắc, đã xâm nhập, tạo biến cố khuynh đảo lũng đoạn xã hội miền Nam, để cuối cùng định mệnh của một dân tộc yêu tự do, nhân bản được an bài trong bất công phi lý.
Như một biên niên sử thời đại, qua ghi nhận trung thực của người trong cuộc đầy trách nhiệm, Song Nhị chẳng những đóng góp sự thật vào dòng lịch sử, còn cho thấy rằng: rủi ro bất hạnh của cả một dân tộc chỉ do một bàn tay tàn bạo, một não trạng bệnh hoạn, một tham vọng quá mức, chỉ nhìn thấy góc cạnh hẹp hòi quyền lợi của một bè đảng vô sản chư hầu nô lệ, mà chẳng hề quan tâm đến nguyện vọng và quyền lợi của cả  một dân tộc khát khao cường thịnh, tự do.

Diên Nghị, 11/2009

Tuesday, February 21, 2012

NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM Ý Ki ến. Nhận Định (5)




NGUYỄN NGỌC BÍCH - Giáo Sư/ nguyên Giám Đốc đài Á Châu Tự Do (RFA)

… Nếu một sản-phẩm như Hợp Lưu, Da Màu hay Talawas có quay lưng vào cái thống-khổ của dân-tộc vào lúc này, hôm nay, nghĩa là không đá động gì đến những dân oan, đến những vi-phạm nhân-quyền trắng trợn ở quê nhà, dù nhân danh cái gì đi nữa (tỷ-dụ, sự hòa-hợp dân-tộc), thì một người bình-thường như tôi vẫn muốn được học kinh-nghiệm của người đi trước, của người chẳng may rớt vào vòng tù tội thay cho tôi để tôi hiểu biết xã-hội, dân-tộc của tôi hơn.
Đó là lý-do tôi tìm đến đọc cuốn sách ra mắt ngày hôm nay, “bút-ký, tự-truyện” Nửa thế kỷ Việt Nam của tác-giả Song Nhị.
…….

“Tôi đã viết và đã xóa bỏ từng dòng. Tôi đã viết và đã xóa bỏ từng trang. Tôi đã xóa bỏ nhiều lần như vậy. Một bài viết ngắn [. . .] cho tới hôm nay… đã chẵn mười năm!”. Tác-giả mở đầu sách của anh như vậy. Như thế hẳn không phải là một tác-phẩm bôi bác mà là một tác-phẩm có nhiều đắn đo, cân nhắc.
Các chuyện anh viết, “mười năm góp nhặt, suy nghĩ, đắn đo,” sau một thời-gian bỗng “những cá biệt, tản mạn đó lại tạo nên một bố cục chặt chẽ, sống động, rất thật trên một đường trường lịch sử nửa thế kỷ Việt Nam.”

Vậy ta hãy thử xem những “cá biệt, tản mạn” của anh có những gì?

Chương đầu, “Giữa một miền quê hiền hòa”, nói về những ngày thơ ấu dễ thương của anh “trên đồng ruộng, ngồi trên lưng trâu, hai mùa lạnh buốt thấu xương, nắng cháy da người” ở Nghệ Tĩnh. Rồi đi học, rồi yêu, nhưng phải trốn sang Lào với gia-đình sau khi chứng-kiến (Chương II) - Cuộc Cải Cách Ruộng Đất “long trời lở đất” ở quê nhà. 
Chương III là nói về cuộc vượt biên sang Lào, với gia-đình được sự giúp đỡ của một cựu-sĩ-quan Pathet Lào, và Chương IV cho biết về những ngày tương-đối yên lành ở Lào trước khi bị CS xâm-nhập…. 

Từ Chương V trở đi là cuộc sống của tác-giả và gia-đình trong một miền Nam tự do sau khi bị “trục xuất” từ Lào về. Được ăn học tử tế rồi bị lôi cuốn vào những phong trào sinh-viên bị CS lũng đoạn, tác-giả mô-tả những ngày tranh đấu không riêng gì ở Trường Đại-học Vạn Hạnh chống lại phía bên kia mà còn lan ra khắp các khoa ở Đại-học Sài-gòn.  Chương này và chương sau (khoảng 50 trang) đối với riêng tôi có thể xem là hấp dẫn nhất…. 

Từ đó, tác-phẩm nhảy qua Chương VII (“Miền Nam, Cơn Lũ Nghịch Thường”) nói đến những ngày cuối cùng của miền Nam…. Đó là uyên-nguyên của kinh-nghiệm “học tập cải tạo” sau đó của tác-giả, được mô-tả cặn kẽ với đầy đủ cả các tài-liệu… 

Chương VIII với những “đợt ‘chuyển quân’ bằng máy bay ra Hà Nội,” “chuyến tàu Nam Bắc” với những “số phận lênh đênh.”

Chương IX riêng bàn về trường-hợp “Bùi Đình Thi” và chiêm-nghiệm về “nhân duyên” và “nghiệp quả” trong đó tác-giả cũng dành nhiều ngậm ngùi cho người đàn bà nạn-nhân khổ-sở là vợ Bùi Đình Thi.

Chương X nói về một số trại tù khá khắc-nghiệt ở miền Bắc nhưng cuộc Trung-Cộng tràn quân qua biên-giới (tháng 2/1979) đã buộc CS phải “chuyển quân” một lần nữa từ các trại tù như Nam Hà hay Cổng Trời về những trại như Thanh Cẩm hay Lam Sơn (tức Lý Bá Sơ “danh bất hư truyền” về mặt dã-man từ thời kháng-chiến chống Pháp để rồi cuối cùng cũng được trở về Nam (Chương XIV, “Châu về Hiệp Phố”). 

Xen kẽ trong những trang này là nhiều kinh-nghiệm rất sống động như “Làm thơ trong tù” (Chương XI), “Biểu tình tuyệt thực, Rừng vang tiếng hát” (Chương XII) nói lên sự bất khuất của người tù miền Nam, và “những cảnh huống [khác] trong tù” (Chương XIII) với đầy đủ những cảnh “hỉ, nộ, ái, ố, dục” ghi lại với một ngòi bút khá công-minh.

Sách cũng kết thúc bằng một số chuyện thú vị như “Nghệ sĩ Thành Được và cuộc vượt ngục tập thể FULRO” thành công, và một số gương bất khuất của người tù đáng lưu danh hậu-thế.

Nhưng giá trị không nhỏ là Chương XV (“Hy vọng trong màn đêm, Ánh sáng cuối đường hầm”) là chương nói về sự vận-động của một số tổ-chức hải-ngoại mà hàng đầu là Hội Gia-đình Tù-nhân Chính-trị VN của bà Khúc Minh Thơ làm việc với những nhân-vật như Đại-sứ Robert Funseth để có chương-trình H.O.  Phụ-lục của sách còn mang một hồ-sơ thật đầy đủ với tài-liệu và hình ảnh mà tác-giả thu thập được để cho mai này ai muốn xuyên-tạc về chương-trình đón cựu-tù-nhân chính-trị của CSVN sang Mỹ cũng không thể dễ dàng phủ-nhận.

Xuyên suốt cuốn sách là một thái-độ rất thận trọng, nhưng không kém phần tự-trọng nói lên được tất cả cái hào-hùng của một quân-đội tuy ngã ngựa và chịu nhiều đầy ải song không bao giờ mất đi cái tính người và tình người của một quân ngũ có ăn học và và đã từng biết thế nào là tự do.

Cảm-tưởng phát biểu tại buổi ra mắt
Ngày 13 tháng 11, 2010
James Lee Community Center, Falls Church, VA

Monday, February 20, 2012

SONG NHỊ - AUSTRALIA


Những Ngày Tình Đầy Trên Xứ Kangaroo

Chiếc phi cơ Boeing 747 rời phi trường quốc tế San Francisco của xứ Cờ Hoa đáp xuống phi trường quốc tế Sydney sau 14 giờ 30 phút bay. Chúng tôi có một tiếng rưỡi đồng hồ để chuyển sang chuyến bay quốc nội, bay về thành phố Brisbane. Trong hơn một giờ rưỡi đó mọi người phải hối hả lấy hành lý, đến trạm check-in rồi lên xe bus sang khu “Domestic Transfer”, xuống xe bus, vào trong khu check-in đủ kịp bước lên máy bay, vì vậy những người khách lạ như chúng tôi không ai được nhìn tường tận xem phi trường Sydney lớn đến cỡ nào.

Từ Sydney bay về Brisbane mất 1 giờ 30 phút. Brisbane là thành phố chính của tiểu bang Queensland, tiểu bang lớn thứ nhì sau tiểu bang Tây Úc, nằm về phía Đông Bắc châu lục này. Từ nhiều năm trước tôi cứ tưởng tượng Brisbane là một thành phố nhỏ ẩn mình sau Sydney, Melbourn. Đến tận nơi rồi tôi mới xóa được cái “ấn tượng” mà chẳng hiểu tại sao tôi lại nghĩ ra như vậy.

CẦU STORY BRIDGE VÀ BRISBANE RIVER
Brisbane đất rộng, người thưa, cảnh đẹp. Quà tặng của thiên nhiên là con sông Brisbane River chảy từ Tây sang Đông, chạy dài hàng trăm cây số. Hai bên bờ sông là những tòa cao ốc soi mình bóng nước. Hành lang hai bên bờ được thiết kế rộng bằng hai “lane” của xa lộ với những “hành lang” và bậc thềm lên xuống mỹ thuật, ở những trạm bến phà (ferry). Phía nam con sông, South Bank, cảnh trí thơ mộng, phố xá rất đẹp, tiện nghi giải trí nhiều. Có một vùng “biển nhân tạo” rộng, chứa nước mặn như ngoài biển lớn, làm bãi tắm công cộng dành cho mọi người.

Biển lớn của Brisbane nằm về phía đông. Thành phố biển của Brisbane là Gold Coast. Ở đây có nhiều tòa cao ốc sừng sững ngó ra đại dương. Bãi tắm dài và rộng hơn nhiều lần bãi tắm Vũng Tàu. Nước biển nơi đây ấm nên bãi tắm lúc nào cũng đông đúc người. Chúng tôi tới đây thời gian không đủ để tắm và thưởng ngoạn hết những cảnh đẹp của đất trời. Rời bãi biển thơ mộng, Tuyết Mai - đứa cháu gái mới ngày nào chân ướt chân ráo đến “làm dâu” xứ người nay đã hội nhập chững chạc, lái xe đưa cậu mợ đi tìm... kangaroo.

Gần Gold Coast là sở thú Wild Life. Nơi đây có nhiều loại thú nhưng du khách từ xa tới đặc biệt “ưu ái” Kangaroo và Kuala, hai loại thú biểu trưng của Lục địa mênh mông này. Nước Úc có trên 20 triệu con Kangaroo, phần lớn sống hoang dã trong các rừng thưa, bụi rậm và trên các thảo nguyên. Người ta bắt kangaroo về thuần hóa như gia súc cho các sở thú và khu du lịch. Loài thú này sinh sản nhanh và tiêu thụ hết phần lớn cỏ dành cho cừu và ngựa, vì vậy không những không bị cấm mà người ta được khuyến khích bắt kangaroo ăn thịt. Thịt Kangaroo không ngon hơn thịt bò, nhưng là sản phẩm lạ nên được xuất khẩu. Người bản xứ thích thịt cừu hơn thịt Kagaroo.
Trong khu Wild Life chúng tôi tới không có nhiều loại thú như trong các sở thú, mà đúng như tên gọi là một khu dành cho thú hoang. Có những con cá sấu dài 6 thước. Một đàn đà điểu (ostrich) sống chung với Kangaroo. Puala hình như được “ưu đãi hơn” hơn, có một khu rừng nhân tạo rộng dành riêng cho giống thú này. Puala ăn lá bạch đàn, ôm thân cây ngủ mỗi ngày hơn 2 phần ba thời gian, chỉ thức chừng vài ba tiếng đồng hồ. Khách đến thăm may mắn mới gặp được Puala mở mắt nhìn mình.

Ở Úc còn nhiều di tích của mẫu quốc từ trước thời nữ hoàng Victoria, như dưới mặt nền tòa nhà thuế quan của Bribane, cạnh bờ sông là một nhà tù bằng đá và xi măng, song sắt kiên cố còn được giữ lại y nguyên, chứng tích một thời người Anh cai trị. Tại Anh có một thành phố tên là Castle khi người Anh đến chiếm Úc đã thêm chữ New vào đặt tên cho thành phố: Newcastle – Lâu đài mới – Người Việt tỵ nạn chúng ta không phải là mẫu quốc của Mỹ nhưng lại thích có cái tên Little Sài Gòn.
Tiếp cuộc du hành, sau ba ngày ở Brisbane, chúng tôi bay đến Newcastle ở phía Nam. Newcastle nằm giữa Brisbane và Sydney. Trước nay chúng ta it nghe nói đến tên thành phố này, một thành phố cũng nằm ven biển và giàu tài nguyên. Ở đây có mỏ than Muswellbrook Coal, lớn vào hàng đầu thế giới. Chúng tôi có đứa cháu (Kim Nguyen) là kỹ sư kế hoạch (Senior Project Engineer) trong ban Điều hành và Quản trị của Công ty nên mới có cơ hội viếng thăm. Ngoài mỏ than, Newcastle còn có những “cánh đồng nho” và các nhà sản xuất rượu nho. Chúng tôi đi suốt một ngày chưa xem hết các cơ ngơi này.
Rời Newcastle đến Sydney, một quãng đường dài 200 cây số bằng xe hơi, do đứa cháu lái, chúng tôi được thưởng ngoạn nhiều cảnh thú lạ, đẹp mắt.

SYDNEY VÀ OPERA HOUSE
Sydney – thành phố lớn nhất và là trung tâm thương mãi của cả nước, như Sài Gòn của Việt Nam. Nói đến nước Úc là nói đến Sydney và nói đến Sydney là nói đến Opera House, đến cây cầu dài một nhịp bắc qua hải cảng Sydney Harbour. Opera House, tòa nhà nhạc viện còn được gọi dưới cái tên nôm na là Nhà Con Sò. Đây là một tòa cao ốc to cao sừng sững, đến gần mới thấy cái lớn lao, vĩ đại và vẻ đẹp của công trình nghệ thuật độc đáo có một không hai này. Những ai đến Úc, đến Sydney không thể không dành thời gian thưởng ngoạn công trình nghệ thuật toát ra từ một tâm hồn lãng mạn, thơ mộng đầy tính sáng tạo của một kiến trúc sư trẻ - Joern Utzon, người vẽ đồ án này khi ông vừa 38 tuổi.
Sau một ngày đến sờ tận tay, nhìn tận mắt từng góc cạnh, từng chi tiết của tòa nhà nghệ thuật Opera House, buổi tối hôm sau trở về nhà với gia đình người thân, mở TV xem, bản tin vedette mở đầu: “Utzon dies at 90 having never set eyes on his masterpiece” (Utzon tạ thế ở tuổi 90, chưa bao giờ nhìn tận mắt kiệt tác của mình). Và bản tin chi tiết tiếp theo: “Joern Oberg Utzon, Architect. Born, Hellebaek, Demark, April 1918. Died Copenhagen, November 29, aged 90”. (Joern Oberg Utzon, Kiến trúc sư, sinh tại Hellebaek, Đan Mạch tháng 4-1918. Mất tại Copenhaen ngày 29 tháng 11, thọ 90 tuổi).

Buổi sáng tại tòa nhà Con sò trên hải cảng Sydney Harbour, chúng tôi đã chụp một tấm hình ghi lại tên tác giả kiệt tác của ông nên khi nghe và nhìn tên người kiến trúc sư Utzon chúng tôi nhận ra ngay, trong giây lát tôi cảm thấy sững sờ. Thât là một ngẫu nhiên hiếm hoi khi chúng tôi được chứng kiến một “giây phút lịch sử, con người và sự việc” mà cả thế giới quan tâm.
Báo chí tại các thành phố ở Úc ngày hôm sau đồng loạt đăng tin Utzon từ trần và thuật lại lai lịch Nhạc viện Opera House, theo đó kế hoạch xây dựng nhạc viện Sydney Opera House bắt đầu từ cuối thập niên 1940. Năm 1954, Thủ Hiến bang New South Wlales kêu gọi các kiến trúc sư vẽ kiểu tạêng cho công trình này. Tháng 9 năm 1955 một cuộc thi vẽ kiểu được phát động, kết quả có 233 bản vẽ từ 32 quốc gia đệ trình. Năm 1957 bản đồ án thắng giải được công bố cho kiến trúc sư Utzon, người Đan Mạch. Cùng năm đó, Jorn Utzon đến Sydney để giám sát đồ án xây dựng. Năm 1959 công trình xây dựng bắt đầu. Mặt ngoài các “vỏ sò” được xây dựng giữa năm 1963 tới năm 1967. Phần trong xây tiếp từ năm 1967 đến năm 1973.

Do có sự bất đồng giữa tác giả công trình với Bộ Trưởng đặc trách công ích (Public Work), Utzon bỏ việc trở về quê hương Đan Mạch, sống cho tới ngày qua đời. Công trình dang dở sau đó được người con trai của ông, Jan Utzon cũng là kiến trúc sư tiếp tục hoàn tất. Cuối cùng Opera House được Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị chính thức cắt băng khánh thành vào ngày 20 tháng 10 năm 1973, với phí tổn xây dựng 120 triệu đô Úc.

Thủ tướng Úc, ông Kevin Rudd gọi Jorn Utzon là một thiên tài, một người đã biến đổi nước Úc, đã đem đến niềm hãnh diện cho người dân Úc. Kevin Rudd nói: “Tòa nhà là biểu tượng của thế giới, là biểu tượng của Úc châu đối với toàn thế giới, phần lớn là thuộc về con người vĩ đại này. Utzon là người con của Đan Mạch, nhưng về phương diện tinh thần Utzon cũng là người con của nước Úc”.
Còn nữa, còn rất nhiều lời ca tụng con người vĩ đại và tòa kiến trúc kiệt tác Opera House từ những nhân vật ở Úc và khắp nơi trên thế giới mà chúng tôi đọc được trên báo chí Úc trong những ngày vui chơi ở đó.

Hải cảng Sydney Harbour rộng lớn, chúng tôi ngồi du thuyền đi ngắm cảnh mấy tiếng đồng hồ. Du khách được hướng dẫn đến xem từng địa danh nổi tiếng vòng quanh hải cảng, một địa điểm mà chúng tôi để ý là giữa một thiên nhiên bát ngát, dưới bầu trời tự do, con người như những cánh chim tha hồ bay lượn thì một đảo nhỏ giữa lòng hải cảng này là một nhà tù, khách có thể ghé vào thăm viếng.

THỔ DÂN ABORIGINAL
Thổ dân ở Úc có tên gọi là Aboriginal. Tổ tiên của họ từ Đông Nam Á đến châu đại lục này bằng thuyền vào thời kỳ Băng Hà cuối cùng, ít nhất 50 nghìn năm trước. Khi châu Âu được khám phá và thiết lập thì ở châu Úc đã có tới một triệu thổ dân Aboriginal, sinh sống bằng nghề săn bắn và gặt hái. Thổ dân Aboriginal có 300 bộ tộc, nói 250 ngôn ngữ và 700 thổ ngữ.
Vào thế kỷ thứ 17, khi các nhà thám hiểm người Anh đi thuyền đến Úc tuyên bố miền duyên hải phía đông là của Anh quốc, một tiền đồn được dựng lên để giam giữ người nô lệ. Năm 1788 người Anh đã chở đến hải cảng Sydney 1,500 người, một nửa trong số này là tù nhân. Năm 1868 khi chuyến tàu chở tù cuối cùng đến Úc đã có 160 ngàn đàn ông và phụ nữ là tù nhân.

Trong khi người định cư tự do bắt đầu đổ xô tới Úc đầu những năm của thập niên 1790, đời sống của tù nhân càng thêm khắc nghiệt. Phụ nữ đông hơn gấp năm lần so với nam giới, thường xuyên bị đe dọa hãm hiếp. Đàn ông phạm tội lần thứ hai như ăn cắp vặt đều bị hành hạ dã man. Người thổ dân bị lớp di dân mới xua đuổi, mất nơi cư trú và phương tiện sinh sống, càng cơ cực hơn. Việc tước đoạt quyền sở hữu đất đai, bệnh tật và chết chóc vì bệnh tật đã làm sụp đổ cuộc sinh tồn truyền thống của thổ dân. Nhưng rồi đã đến lúc nước Úc thức tỉnh, sau khi giành được độc lập từ tay người Anh. Năm 1967 toàn dân Úc bỏ phiếu áp đảo chấp thuận cho chính quyền liên bang ban hành những luật lệ dành cho dân Úc gốc Aboriginal, đưa thổ dân vào những cuộc điều tra dân số trong tương lai.

Trên bến cảng Sydney chúng tôi gặp mấy người thổ dân Aboriginal nghệ sĩ vỉa hè. Họ vui vẻ mời chúng tôi chụp chung hình rất thân thiện.
Tài liệu không nói rõ hiện nay thổ dân Aboriginal có tất cả bao nhiêu người.
Đó chuyện dưới nước, còn chuyện trên bờ... trung tâm thị tứ thành phố Sydney là những tòa cao ốc 15, 20, 30 tầng lầu. Chúng tôi ngủ ba đêm trên tầng 12 ở
một khách sạn 22 tầng lầu trung tâm thành phố. Từ tầng 12 nhìn xung quanh cảnh trí thật đẹp mắt. Nhưng để nhìn toàn cảnh Sydney thì phải lên ngồi trên Tower Restaurant. “Ngọn tháp” này cũng tương tự như “Tháp quán rượu” ở San Francisco. Khách ngồi một chỗ, tòa nhà xoay vòng 360 độ để khách nhìn ngắm quang cảnh toàn thành phố.

Tháp Tower Restaurant
Chúng tôi ngồi trên Tower Restaurant khoảng ba tiếng đồng hồ, restaurant là quán ăn buffer một tầng trong bốn tầng lầu. Thực đơn phổ biến ngoài những món như beefsteak, hải sản, còn có những món đặc sản của Úc như thịt cừu, bào ngư sống... Bia rượu có đủ thứ. Bia nhập chỉ có Heineken, còn nữa là bia nội địa. Bia Úc tùy theo khẩu vị mà chọn. Phổ biến chúng tôi uống Crow hoặc Hansen.
“Người Úc là dân bia rượu”, đó là nhận xét của một người bạn mà chúng tôi gặp ở quán Tuppy dưới khách sạn Quest tại Brisbane, khi chúng tôi ngồi nhìn sang một quán rượu đối diện. Ở đó mỗi ngày người ta tấp nập như mở hội, có đủ mặt nam nữ quây quần quanh những bàn bia rượu hàng tiếng đồng hồ từ chiều tới khuya.
Nước Úc, Ngoài Kangaroo, Opera House, cây cầu một nhịp trên Sydney Harbour, cầu Story Bridge, dòng sông Brisbane River, Tower Restaurant thường là hình ảnh quảng cáo cho kỹ nghệ du lịch. Ngồi trên Tower Restaurant cứ mỗi đoạn ngắm nhìn thành phố Sydney về đêm lại giáp một nơi “service food”, cho tới khi đầy bụng lúc nào không biết, thì cũng là lúc cần trở về khách sạn nghỉ ngơi sau một ngày đi bộ “exercise” khắp các nẻo đường thành phố. Đường phố Sydney khi nào cũng đầy người tấp nập. Họ đi shopping, đi dạo ngắm, đến sở và đi làm về. Điểm đặc biệt ở Sydney đường phố xe bus và taxi chiếm lĩnh địa hạt chuyên chở công cộng. Xe bus hàng 20, 30 chiếc nối đuôi nhau tấp lề đón khách; Taxi chiếc này tiếp chiếc kia liên tục trên tuyến đường. Xe tư nhân có lẽ chỉ khoảng một nửa của lượng xe trên đường phố.
Tại Thành phố Sydney chúng tôi có ý tìm một nhà hàng hay một nhà sách Việt nam nhưng không thấy. Có một quán phở, chủ nhân là một phụ nữ trung niên người Hoa Chợ Lớn, vượt biên năm 1978. Phần đông người làm cho các nhà hàng, quán ăn Việt ở Úc là “dân du học” đến từ VN.
Rời Sydney chúng tôi mang theo nhiều ấn tượng về một thành phố văn minh hiện đại.

**
Chuyến bay từ Sydney về thành thành phố Melbourn ở cực Nam mất hai giờ. Nhìn từ trên máy bay, Melbourn rộng lớn mênh mông. Khi dạo phố mới thấy đây là một thành phố có nhiều nét cổ kính hơn Sydney và Brisbane. Đặc điểm của Melbourn là xe điện. Xe điện hình như là phương tiện chuyên chở công cộng duy nhất của thành phố này. Xe điện chạy giữa tim đường, hai bên là lanes dành cho xe hơi, xe ngựa. Xe ngựa không nhiều vì đã bị cấm hành nghề, rồi do khiếu nại, chính quyền hỏi ý dân qua một cuộc trưng cầu dân ý. Kết quả người dân đồng ý bỏ lệnh cấm đối với một nghề kiếm sống lương thiện. Để dung hòa, xe ngựa được chạy trong thành phố những ngày cuối tuần để tránh nạn kẹt xe. Kẹt xe ở Úc cũng không thua gì traffic jam ở Mỹ.
Melbourn có một loại xe điện công cộng (Free City Circle Tram) chạy vòng quanh thành phố, dành cho du khách hay bất cứ ai muốn sử dụng để rong chơi, hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi lên xe dạo một vòng quanh thành phố và xuống xe dừng lại ở hải cảng Victoria Harbour. Ngoài hải cảng Victoria Harbour, Melbourn còn có dòng sông Yarra River nổi tiếng. Victoria Harbour là một hải cảng lớn, có địa hình giống như Vũng Tàu. Cảng cũng là một “vũng” lớn mênh mông, thông với biển là một ngõ ra vào nhỏ hẹp so với “vũng”. Từ đó mà có nhóm chữ “thuyền ra cửa biển”. Victoria Harbour không có những công trình đồ sộ tiếng tăm như Sydney Harbour nên ở đây bình lặng với các phố xá, ngân hàng, cao ốc...

Melbourn là thành phố “hợp chủng”, nơi hội tụ đủ mọi sắc dân trên toàn thế giới. Nhiều tiệm ăn của người Hy Lạp. Nhiều tiêm buôn của gốc Trung đông. Tất cả các quầy bán hạt dẻ trên các hè phố Melbourn đều là các cô gái Ấn Độ. Hạt dẻ đóng sẵn trong từng bịch ny-lông, còn nóng, thơm bùi, mua vài bịch vừa đi dạo vừa nhâm nhi trong cơn gió chiều mùa hè phơn phớt lạnh thật là thú vị.
Chúng tôi khó khăn lắm mới đón được taxi đến khu phố Việt, vào tiệm phở Litlle Sài Gòn. Các tiếp viên đều là những em SV du học. Có em giọng “Bắc kỳ” đặc sệt, chúng tôi hỏi thăm thì được trả lời “Cháu sinh và lớn lên ở đây”. Phở ở đây ngon và món cơm thit nướng cũng rất “bắt miệng”. Một quán phở khác có tên “Dũng Tân Định”, món phở như là một “tổng hợp” giữa ba thứ phở, hủ tíu, bánh canh, nhưng dẫu sao vẫn hơn hẳn tiẹâm mì Beijing trong khu phố Tàu bên cạnh. Tiệm này gốc gác từ Trung cộng, món ăn cỡ bếp tập thể của “công xã nhân dân”, dù đói bụng nhưng nuốt khó trôi.

Rời phở Litlle Sài Gòn, chúng tôi vào một Super Market. Nữ chủ nhân là một phụ nữ Việt trạc tuổi dưới 50. Hàng hóa trong chợ cũng không thiếu một thứ gì. Rau quả tươi như vừa hái từ vườn, tôm cá tươi sống, không có loại ướp đá như chợ bên Mỹ. Là một vùng có khí hậu bán nhiệt đới, rau và hoa quả rất tươi, hương vị đậm đà. Trái cây như xoài, ổi… ngọt và thơm.
Ở Sydney và Melbourn đều có những khu phố Tàu, kiểu như ở san Francisco, cũng sầm uất lắm. Cũng có chùa Tàu, khu “Văn Hóa Tàu” (Chinese Culture), dù chỉ có một số ít biểu tượng.
“Tha hương ngộ cố tri” là một trong ba cái… “sướng” (*) của người xưa, nhưng lần này là một ngoại lệ khi chúng tôi được đón tiếp thân tình bởi những người mà chưa hề gặp nhau trước đó. Ở Melbourn, người “xa lạ” đầu tiên chúng tôi gặp là Quốc Oai và Diễm Trang - con trai và con dâu của nhà văn Thanh Thương Hoàng, một trong những “anh cả” của tạp chí Nguồn. Hai cô cậu gọi phone đến chúng tôi nhiều lần rồi một buổi tối mời chúng tôi đi ăn. Chúng tôi đến một Restaurant khá sang trọng, chủ nhân là người Hoa nhưng thực khách hầu như toàn là người Úc. Chúng tôi phải sắp hàng chờ. Món ăn ở đây ngon, đặc biệt món thịt cá sấu xào.

Chúng tôi cảm thấy vui tươi và như trẻ lại khi chuyện trò với vợ chồng Q.Oai và Diễm. Chúng tôi tìm thấy ở cô cậu sự gần gũi chân tình và hiếu khách. Nếu thời tiết không báo hiệu có mưa bão thì chúng tôi đã được cô cậu chở đi thăm một hang động cách xa thành phố khoảng hơn 300km, được mô tả là rất đẹp, hơn cả động Phong Nha ở Quảng Bình. Q.Oai vượt biên lúc tuổi “teen” hiện làm việc cho công ty cổ phần lớn nhất của Úc, Diễm Trang là Y tá đã hơn mười năm và ý định sẽ chuyển ngành trong vài ba năm nữa để “enjoy” cuộc đời. Nghề Y tá lương cao nhưng vất vả và kẹt thì giờ quá.

Chúng tôi có dịp gặp hai anh Phùng Mai và Phương Duy trong nhóm “Hội Bảo Vệ TKTT”. Cuộc gặp gỡ, trò chuyện thân tình, mặc dù anh Phùng Mai có nhắc lại “trong vụ RMS Viết Từ Hang Đá có lúc tôi đã nặng lời vì hiểu lầm”. Trong Phùng Mai có một sức lực tinh thần, năm 75 mới lên sáu và vượt biên sang Úc.  
Sau bốn ngày rong chơi với Melbourn, chúng tôi bay về lại Brisbane nghỉ ngơi thêm vài ba ngày trước khi trở về Mỹ. Trong bữa cơm từ giã tại một Restaurant Việt ở Brisbane, chúng tôi được gặp ông bà Bùi Trọng Cường, chủ tịch cộng đồng Việt ở thành phố này. Ông Bà Bùi Trọng Cường là hai bác sĩ Việt hành nghề đầu tiên và sớm nhất tại Úc từ năm 1977. Trong nhiều năm qua BS Cường là một khuôn mặt chính trị tiếng tăm ở Úc. Ông dành hầu hết thời gian cho sinh hoạt phục vụ cộng đồng, cho công cuộc đấu tranh vì lý tưởng dân chủ nhân quyền của dân tộc.

Nhân dịp này BS Cường tặng chúng tôi một trang tem in hình Lê Thị Công Nhân giá 50 cent của bưu điện Úc và hai tác phẩm: (1) “Nhị Kiều Nước Nam”, tác giả Bảo Giang. Uc Châu xb 2008. (2)“Hai Truyện Tù – Two Prison Life Stories” của Nguyễn Chí Thiện. Sách in ở Mỹ. Một món quà đặc biệt khác cả hai ông bà BS tặng chúng tôi là vòng dây in những lá cờ vàng ba sọc đỏ – biểu tượng căn cước của người Việt tỵ nạn.

Rời nước Úc với tất cả cảm tình lưu luyến, đất nước, con người, đồng hương và thân thuộc.
Xin cảm ơn nước Úc. Cảm ơn những gặp gỡ tiếp đón thân tình. Cảm ơn những đứa cháu hồn nhiên thân thiết, sinh trưởng ở xứ người, thành đạt mà tâm hồn vẫn rất Việt Nam.
Sau hết và hơn hết cảm ơn vợ chồng cô em gái út – Trần Thị Kim Vân – đã dành hết tình cảm ruột thịt cùng các tiện nghi cao nhất cho anh chị.
Tôi ngẫm lại mới thấm thía tại sao người xưa gọi con trai út và con gái út là Quý nam và Quý nữ.

Song NhỊ


NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM Ý Kiến. Nhận Định (4)
















LÊ ĐÌNH CAI - GIÁO SƯ SỬ HỌC


Năm 1953, nhà văn Song Nhị lúc đó 15 tuổi đã phải chứng kiến những giờ phút kinh hoàng của hai bản án tử hình đầu tiên trong đợt phát động Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) ở quê ông (Hương Khê, Hà Tĩnh). Những gì ông viết về nạn đói Ất Dậu năm xưa và nhất là những điều ông đã chứng kiến trong chiến dịch CCRĐ đã được thể hiện lại hết sức sống động, thương cảm, khiến người đọc không ai có thể cầm được nước mắt.

*Trước đây, chúng tôi cũng có đọc được nhiều tài liệu viết về cuộc CCRĐ và về tòa án nhân dân, đấu tố khủng khiếp này, nhưng phải nhận rằng lời kể của người trong cuộc, tác giả Song Nhị, với giọng văn sắc bén, đầy hình tượng đã làm lay động lòng người. Chính tác giả là người đã làm sống lại dòng chảy của thời gian đã qua, khơi lại nhịp thở của xã hội đương thời, lay động được những hồn ma ngủ quên trong nấm mồ oan khiên của lịch sử, dựng họ dậy để cùng ông lên tiếng thêm một lần nữa trước công luận thế giới về một giai đoạn tối tăm và bi thảm của lịch sử Việt tộc. (Chương I, II).

Nửa Thế Kỷ Việt Nam kể lại những biến cố trải qua trong cuộc đời của tác giả từ năm 1945 -1995. *Sau thảm họa của CCRĐ là cuộc vượt thoát kỳ diệu của toàn thể gia đình sang đến đất Lào. Những cam go trong bước đầu hội nhập vào một xã hội mới, những thử thách đôi khi tưởng chừng khó vượt qua được, với ngòi bút ý nhị của tác giả, được ghi nhận lại hết sức sinh động và trở thành bài học kinh nghiệm quý giá cho nhiều thế hệ về sau (Chương III, IV).

Rồi tác giả quyết định trở về quê nhà vào ngày 10-4-1960, “Tôi tung cánh bay về vùng trời Miền Nam Tự Do qua chuyến bay Paksé - Sài Gòn, chấm dứt giai đoạn tị nạn chính trị tại Vương quốc Hoàng Gia Lào, dưới chính thể quân chủ Lập Hiến” (Song Nhị sđd, tr 170).

Kể từ đây, tác giả bắt đầu một cuộc chiến đấu mới đầy thử thách và cam go hơn. Mặt trận mà Song Nhị phải dấn thân là “mặt trận văn hóa với cuộc đối đầu giữa Sinh Viên Quốc Cộng”.  Tôi tâm đắc nhất là khi đọc đến chương V, VI của cuốn sách này. Tác giả trình bày bối cảnh miền Nam sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cùng các hoạt động của giới Sinh viên Sài Gòn sau khi cuộc cách mạng 1.11.1963 thành công. Đây cũng là giai đoạn mà cá nhân tôi đã tham dự vào các biến động Miền Trung qua các phong trào tranh đấu của Sinh viên thuộc viện Đại học Huế. Từ ngày đó đến nay tôi chưa thấy một quyển sách nào ghi nhận đầy đủ toàn bộ các phong trào đấu tranh của Sinh Viên các viện đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt... Và mong ước của tôi là viết lại bộ sách ghi nhận trung thực phong trào đấu tranh của Sinh viên miền Nam từ năm 1963 -1966. Vì thế Nửa Thế Kỷ Việt Nam của tác giả Song Nhị đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu sử học những tư liệu hết sức quý giá của giai đoạn biến động Sinh viên này.

*Chương VII đề cập đến đoạn đường bi thương của miền Nam vào tháng 4 đen (1975) mất nước. Những hệ lụy kéo theo sau khi miền Nam hoàn toàn bại trận. Cuộc đời đày ải của tác giả trong trại tù cải tạo bắt đầu.

Với những nhận xét tinh tế của một nhà văn, với tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, tác giả Song Nhị, qua tám năm lao khổ  từ trại tập trung Long Thành đến nhà tù Quảng Ninh, rồi Lam Sơn Thanh Hóa, và cuối cùng là trại Z30A Xuân Lộc, đã để lại cho thế hệ sau một bản cáo trạng về chế độ tù đày khắc nghiệt có một không hai trong lịch sử (Chương IX đến XIII).
*Riêng chương XIII tác giả kể lại chi tiết chuyến tàu xuôi Nam của những người tù bị đưa ra Bắc. Những nghĩa cử ân tình mà người tù đón nhận được từ đồng bào miền Nam khi con tàu vào các sân ga của những địa giới như Quảng Trị, Huế, Diêu Trì, Đà Nẵng, Nha Trang tới Phan Thiết, Dầu Giây... được tác giả ghi lại hết sức xúc động. 

Sau hơn tám năm trời khổ sai trong các trại tù cộng sản, vượt qua biết bao thử thách cam go, có những lúc phải giành giật với tử thần trong đường tơ kẽ tóc, không biết phép lạ nào đã cho mình tồn tại, sống sót để trở về từ cuối tầng địa ngục. Tác giả Song Nhị tâm sự: “Tôi nếm trải hơn ba ngàn ngày trong các trại tập trung cải tạo, nếm trải từng phút giờ, từng tháng ngày trong nỗi chết, cận kề sự sống. Cái đói khát cào xé ruột gan bao tử, cái chịu đựng nỗi đắng cay tủi nhục như từng mũi kim chích vào thần kinh tâm não, cái đói triền miên từ ngày này sang tháng nọ làm cho thể xác người tù kiệt rạc, hơi thở thoi thóp... Nhưng trong thể xác tàn tạ, điêu linh ấy vẫn còn một sinh lực vô hình ngấm ngầm, chìm lặng để giữ cho thể xác kia không sụp đổ, cho nhân cách phẩm giá không bị ố nhòe. Người ta gọi cái nguồn sinh lực ấy là tinh thần. Đời sống tinh thần không là miếng cơm manh áo, không là ăn ngon mặc đẹp, mà là cái gì sâu thẳm nhất, cái tinh chất nuôi sống con người, chủ động của mọi hành vi, thái độ. Có mấy ai cảm nhận cái sức mạnh “tinh thần” ấy như thế nào trong cuộc sống bình thường êm ả...” (Song Nhị sđd, tr 151).

*Chương XIV với tựa đề “Hy vọng trong màn đêm, ánh sáng cuối đường hầm”, tác giả nhắc đến chương trình HO nhằm đưa tù cải tạo của chế độ miền Nam qua định cư tại Hoa Kỳ. Hành trình của một HO được tác giả trình bày khá rõ ràng thuyết phục với nhiều tư liệu đáng tin cậy.

Thật ra, với dạng bút ký, tự truyện như “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” không ai bắt buộc tác giả phải làm việc cẩn trọng đến vậy. Song Nhị là nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo văn học (Lưu Dân Thi Thoại, viết chung với Diên Nghị, California, Cội Nguồn 2003) nên tính cẩn trọng trong tác phẩm được đánh giá rất cao.

Tôi đón nhận cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam (1945-1995) của tác giả Song Nhị do nhà xuất bản Cội Nguồn ấn hành tháng 1 năm 2010 tại San Jose, California trong cảm tình nồng hậu vì tôi biết tác giả là một con người có lý tưởng. Khi đọc đến chương II nói về cuộc CCRĐ tại quê nhà tác giả vào những năm 1953 -1956 mà toàn thể gia đình Song Nhị bị quy tội thuộc thành phần địa chủ, tôi thật không cầm được nước mắt trước những vết hằn đau thương mà cậu bé chưa đầy 15 tuổi đã phải chịu đựng. Rồi cứ thế, tôi theo chân cậu bé 15 đó trên bước đường vượt Trường sơn qua Lào để tìm hơi ấm của tự do. Ngày 10-4-1960, cậu bé ngày nào của nạn đói Ất Dậu bây giờ đã là chàng thanh niên căng đầy nhựa sống (22 tuổi) đã đặt chân xuống Sài Gòn hoa lệ, thủ đô của miền Nam sung túc và giàu có.

Chàng trai bị đuổi học thời Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc nay đang là Sinh Viên ngành Luật của miền Nam và cả tương lai đang chờ đợi anh phía trước. Nhưng thực sự thì anh đang bước vào cuộc chiến tuy âm thầm nhưng rất mãnh liệt mà anh gọi là “Mặt trận Văn hóa: Cuộc đối đầu giữa Sinh viên Quốc Cộng” khi anh đang theo học ngành cử nhân Khoa học Nhân Văn tại trường Đại học Vạn Hạnh và đang là Chủ bút của Bán nguyệt san Hướng Đi của Tổng Hội sinh viên (Đại Học Vạn Hạnh 1965-1968). Anh đã trốn chạy chế độ cộng sản khi còn là cậu bé 15 tuổi nên không lạ gì khi anh dùng ngòi bút để chiến đấu chống lại sự xâm nhập của cộng sản trong hàng ngũ Sinh viên miền Nam vào đầu thập niên 1960.

Thế rồi cuộc diện thay đổi, miền Nam mất vào tay cộng sản vào tháng Tư đen 1975 và tác giả Song Nhị cũng như hàng vạn người yêu nước khác của chế độ miền Nam đã phải chịu những tháng năm đày ải khổ sai trong các trại tù của cộng sản. Tháng 5/1983 tác giả được thả ra khỏi trại tù Xuân Lộc như trả xong món nợ tiền kiếp, về đoàn tụ với mẹ cha và với người vợ – chị Trần Thị Kim Nhiễu, người chinh phụ thời đại, 22 tuổi xa chồng sau hai năm hương lửa, tám năm chờ chồng và 13 năm sau kể từ ngày lập gia đình mới sanh con đầu lòng. Toàn bộ gia đình Song Nhị đã đến Mỹ trong danh sách HO14, định cư tại San Jose từ ngày 16-2-1993 cho đến nay.

Nửa Thế Kỷ Việt Nam kể lại toàn bộ cuộc đời lưu lạc nổi trôi của tác giả từ 1945 đến 1995. Đây là tác phẩm dưới dạng hồi ký, hay theo cách gọi của tác giả là tập “bút ký, tự truyện”. Dĩ nhiên, đây không phải là tác phẩm biên khảo sử học để buộc tác giả phải tuân theo những quy định khắt khe của ngành học này trong vấn đề trích dẫn, chú thích hay tham khảo. Điều mà người viết muốn được nhấn mạnh ở đây là tác phẩm này có giá trị đến mức độ nào đối với các nhà nghiên cứu lịch sử khi cần viết về giai đoạn tranh chấp Quốc Cộng vừa qua.

Hồi ký, bút ký hay tự truyện đều có thể là nguồn sử liệu cần thiết cho các sử gia khi nghiên cứu đến một giai đoạn lịch sử nào đó. Tuy nhiên nó phải được sàng lọc qua hai công đoạn cần thiết của phương pháp sử học: Cẩn án ngoại (External Study) và Cẩn án nội (Internal Study).

Từ tác giả đến nội dung tác phẩm đều cho phép tin cậy được thì Hồi ký, Bút ký hay Tự truyện, trong chừng mực của nó đều cho phép các nhà nghiên cứu dùng làm sử liệu cho công trình biên soạn của mình.

“Vũ Trung Tùy Bút” của Phạm đình Hổ hay Tang Thương Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án đều viết về chính sách kinh tế hay đời sống xã hội sa đọa dưới thời Chúa Trịnh đều được các sử gia sau này trích dẫn trong các tác phẩm sử học của họ.

“Phù biên Tạp lục” của Lê Quý Đôn hay “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Thời Chí cũng vậy, cũng chỉ là dạng bút ký hay “tạp lục” thế mà về sau đã trở thành những tư liệu quý hiếm khi đề cập  đến lịch sử thời cận đại.

Gần chúng ta hơn có “Tuấn Chàng Trai Nước Việt” của nhà văn Nguyễn Vỹ, lấy bối cảnh của người thanh niên Việt Nam từ sau Thế chiến Thứ nhất (1914-1918) để kể lại tâm tình, cách suy nghĩ và hành động của giới trẻ thời đó mà bây giờ nếu nhà nghiên cứu nào muốn biết về hướng đi, nhịp thở, phong cách, sự suy nghĩ của giới thanh niên vào những thập niên đầu thế kỷ 20, không ai là không tìm đọc “Tuấn Chàng Trai Nước Việt” của Nguyễn Vỹ.

Cũng vậy, theo suy nghĩ của tôi, rồi ra trong vài ba mươi năm sau nữa, cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam (1945-1995), bút ký của nhà văn Song Nhị nói về những biến cố trọng đại qua cuộc tranh chấp Quốc Cộng ảnh hưởng lên cuộc đời cá nhân và gia đình, đến vận mệnh của dân tộc, sẽ trở thành là nguồn sử liệu hiếm quý cho các nhà nghiên cứu sử học trong tương lai.

Lê Đình Cai (*)
San Jose, những ngày vào Xuân Bính Dần 2010

--------------------------------
(*) Giáo sư Lê Đình Cai là giảng sư dạy môn sử học tại Đại học Đà Lạt, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và Trường Đại Học Văn Khoa Huế (1968-1975). Hiện ông cũng là Giáo sư Sử học tại một số trường Đại học tại Hoa Kỳ (từ 1996 đến nay).


Sunday, February 19, 2012

NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM Ý Ki ến. Nhận Định (3)











Hàn Phong Cao - Nhân Sĩ/ Cựu Tr/tá Thiết Giáp

Giới thiệu tác giả Nửa Thế Kỷ Việt Nam
(Tại Hội Trường James Lee Community Center Theater 2855 Annandale, Fallschurch, VA)

Chúng tôi - Hàn Phong Cao, đến từ San Jose, California xin kính chào quý vị.
Kính thưa các bậc trưởng thượng, quý bà, quý niên trưởng và chiến hưũ QL/VNCH.
Tôi hoàn toàn xa lạ với hầu hết qúy vị hiện diện trong hội trường này, nhưng tôi lại rất quen thuộc với vùng trời Hoa Thịnh Đốn. Tôi đã đặt chân xuống phi trường Hoa Thịnh Đốn ngày 10/7/1975. Ngoài trời hôm ấy mưa như trút nuớc, sấm chớp và giông bão.

Thưa quý vị,
Lúc ấy lòng tôi cũng đang giông bão. Nuớc mát lưng tròng, vui mừng thì ít nhưng buồn tủi thì nhiều. Buồn tủi vì phải xa xứ, tương lai mù mịt. Vui mừng vì đã được đặt chân đến vùng trời Hoa Thịnh Đốn, thủ đô của tự do và hy vọng. Nhưng trong tâm tư tôi nhen nhúm sự nuối tiếc và ân hận vì đã không làm tròn bổn phận của một quân nhân.

Ngày đặt chân đến đây, tôi ở cái tuổi đời 38, đầy sức sống và phong độ của tuổi trung niên, giờ đây phong độ ấy không còn, chỉ còn phong thấp, khệnh khạng trong tuổi đời bóng xế.
Mỗi lần về Hoa Thịnh Đốn lòng tôi náo núc như một kẻ xa quê tìm về thăm thành phố cũ đầy ắp những kỷ niệm đầu đời của kẻ tị nạn.

Công cuộc đấu tranh chính trị, những hoạt động xây dựng cộng đồng người Việt quanh vùng thủ đô này tôi thật lòng khâm phuc và ngưỡng mộ. Gặp được qúy vị tôi cảm nhận như được gặp lại những bà con quen thân, những cô dì chú bác; và còn cả một gia đình anh em thân thiết của tôi, cùng giòng họ Phù Đổng Thiết Giáp Binh, và các chiến hữu huynh đệ QL/VNCH.

Tôi xin lỗi đã phải dài dòng như vậy để tự giới thiệu; và như vậy, tôi mới có đủ tư cách để giới thiệu đến quý vị anh Song Nhị, tác giả tập bút ký, tự truyện Nửa Thế Kỷ Việt Nam.

Nhà văn Song Nhị là con chim đầu đàn của Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn, là người chủ trương tạp chí Nguồn, một tạp chí phổ biến những sáng tác văn học, nhận định và phê bình văn học nghệ thuật. Anh đảm nhận vai trò Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, với sự cộng tác thường nhật của nhà văn Dương Diên Nghị - một bỉnh bút của tạp chí Nguồn và là cây bút phê bình văn học đã được nhiều độc giả khắp nơi mến mộ.

Khởi đi từ năm 1995, trong hơn 15 năm đó, trên diễn đàn thơ văn Cội Nguồn đã chuyển tải tràn ngập những sáng tác văn học nghệ thuật đến với độc giả khắp mọi nơi. Và Cơ Sở này đã hình thành tạp chí Nguồn vào năm 2004 với sự đóng góp thường xuyên, hùng hậu của các thành viên văn thi hữu và các thức giả tên tuổi taị Hoa Kỳ cũng như hải ngoại, kể cả trong nước, những tác phẩm tranh đấu cho tự do dân chủ tại quê nhà.

Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn đã ấn hành trên 45 tác phẩm đủ thể loại có giá trị của các tác giả được bạn đọc hâm mộ. Hàng ngàn trang nhật báo, chuyên đề về văn học nghệ thuật đã được đăng tải trên nhật báo Thời Báo, phát hành taị San Jose, California hàng tuần.

Một điểm son khích lệ cho Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn là Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ đã đặt mua 50 số báo tạp chí Nguồn, từ số 1 đến số 50 để lưu trữ vào Văn Khố các tác phẩm Văn Học, khu vực Đông Nam Á Châu. Tất cả các số báo tạp chí Nguồn đã được cấp số lưu ký thư mục. Thêm vào đó, hơn 20 tác phẩm do Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn xuất bản cũng đã được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ đưa vào thư mục lưu trữ từ những năm trước.
Nhóm thành viên của Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn đều đồng ý với nhau rằng: nếu không có được sự chịu khó, năng động và chuyên nghiệp của nhà văn Song Nhị thì cơ sở này không đạt được những thành quả đáng vui mừng và khích lệ như đã nói. Nhưng với riêng tôi, anh Song Nhị nhờ có sau lưng một hiền thê duyên dáng, chung thủy, nhẫn nại, đảm đang và tận tụy đã giúp anh Song Nhị vượt qua những cơn sóng gió, những hệ luỵ oan khiên, đã hỗ trợ và chia sẻ mọi khó khăn kể cả những lúc anh Song Nhị và Cội Nguồn bị vu oan, xuyên tạc   khi anh đảm nhiệm điều hành Cơ Sở Cội Nguồn.  

Thưa quý vị,
Kỹ năng tân tiến của điện toán và tin học đã giúp cho con người những phương tiện tuyệt hảo để thực hiện nhiều lợi ích cho cuộc sống, đặc biệt là trong lãnh vực truyền thông và in ấn, nhưng trong 15 năm hoạt động của Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn cũng đã có những lúc mưa dồn sóng vỗ - Cội Nguồn và anh Song Nhị cũng như có những người trong số qúy vị thức giả và anh thư hiện diện trong hội trường này, tôi nghĩ và tin chắc rằng từng là nạn nhân của những kẻ tiểu nhân, nhỏ mọn vì lòng tị hiềm và không lương thiện, đã lạm dụng phương tiện tin học để chuyển tải những điều vu khống, bôi lọ và xúc phạm đến uy tín của quý vị, cũng như Cơ Sở Cội Nguồn và anh Song Nhị.

Xin qúy vị hãy lấy đức độ khoan dung và tấm lòng Bồ tát tha thứ cho họ để an vui trong cuộc sống. Sau khi sự thật đã minh bạch, người ta chờ đợi một lời chính thức xin lỗi để họ lấy lại tư cách, nhưng tôi tin quý vị sẽ chẳng bao ginhận được một lời thành tâm xin lỗi từ những con người ấy.

Nhờ có sự cộng tác gần gũi và hiểu biết tin cậy lẫn nhau của các thành viên trong nhóm   nên Anh Song Nhị đã bình chân tiến bước. Những sóng gió và rác rến đó đã trôi qua. Sự thật và lẽ phải đã được khẳng định. Cội Nguồn đã xác đinh tiếp tục lên đường với hành trang mới, tác phẩm “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” – bút ký, tự truyện của Song Nhị.

Thưa quý vị,
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từ trong nước đã xin được là thành viên chính thức của Cội Nguồn.

Cội Nguồn là thế đó
Anh Song Nhị là thế đó

Xin trân trọng giới thiệu đến qúy vị tác giả Nửa Thế Kỷ VIệt Nam.

Hàn Phong Cao





NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM Ý Kiến. Nhận Định (2)














PHONG THU – NHÀ VĂN
                                                                                                                           
Nửa Thế Kỷ Việt Nam - Cuộc Nội Chiến Và Hành Trình Bi Thảm Của Dân Tộc Việt Nam   
(Giới Thiệu Tác Phẩm )

Từ năm 1980, trong trại tù Thanh Hoá, người tù Song Nhị đã từng viết:
Ta chờ xóa vết chân hoang
Về đem huyết sử viết trang chuyện đời
Ta chờ người lại với người
Xoá tan huyền thoại những lời võng ngôn

Và sau 10 năm miệt mài, trang huyết sử đã ra đời. Nó thấm đẫm nước mắt và xương máu của hàng triệu người tù cải tạo. Tôi nhận được quyển sách của tác giả gởi tặng khi vừa in xong và tôi là người đầu tiên đã phân tích tác phẩm của ông. Chỉ trong vòng 3 tháng, “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” đã tái bản lần thứ nhì, số trang từ 467 tăng lên thành 500 trang, bổ sung thêm những ý kiến chọn lọc, đầy ngợi khen của tất cả các văn thi hữu, những nhà phê bình văn học khắp nơi ở hải ngoại.

Vì sao quyển sách thu hút người đọc đến như vậy? Vì ông là một nhà giáo, một nhà báo một nhà binh, một nhà thơ, một nhà văn, và sau cùng ông là một người tù lương tâm như hàng vạn người tù của Miền Nam Việt Nam sau biến cố 30/4/1975. Những yếu tố trên đã hình thành nên phong cách của ông trong sự nghiệp văn học. Ông đã sống trọn vẹn với chính mình, với đời và với văn học. Một cuộc đời lênh đênh, trôi giạt từ miền Bắc Việt Nam sang nước Lào, từ Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau, từ Sài Gòn cho đến các nhà tù cộng sản.

Ngay từ trang 7 “thay Lời Tựa”, tác giả viết “...Tôi đã viết và đã xoá từng dòng. Tôi đã viết và đã xoá từng trang. Tôi đã xoá nhiều lần như vậy...”.

Quyển sách gây cho tác giả nhiều trăn trở, đau xót nên phải xoá đi xoá lại nhiều lần trước khi đến tay người đọc. Quyển sách dày 500 trang bao gồm 16 chương. Mỗi chương chia làm nhiều tiểu đoạn. Tác giả đã lấy mốc thời gian từ năm 1945 cho đến năm 2009 để sàng lọc, biên soạn, tìm kiếm tài liệu thông qua kinh nghiệm cuộc đời và ghi chép lại trung thực những gì mắt thấy, tai nghe những sự kiện, con người mà ông đã từng chứng kiến, gặp gỡ, và tìm ra nguyên nhân của cuộc nội chiến và  hành trình bi thảm của dân tộc Việt Nam suốt nửa thế kỷ.

Nỗi gian truân của ông bắt đầu từ quê hương Hà Tĩnh, nơi mà một đứa trẻ tiểu học như ông phải chứng kiến những cuộc đấu tố tàn ác trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất của cộng sản mà gia đình và dòng họ ông chính là nạn nhân.

Rồi 8 năm trong nhà tù cộng sản từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 5 năm 1983, ông đã bị giam giữ nhiều nơi, từ Long Thành, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Xuân Lộc, ông đã nhìn thấy được sự va chạm và “cọ xát” giữa con người với con người, giữa thiện và ác, giữa nhân ái vị tha và bần tiện, giữa nhân cách cao trọng và lối sống ti tiện, hèn mọn.

Vụ án điển hình làm rúng động trong và ngoài nước là vụ án Bùi Đình Thi mà LM Nguyễn Hữu Lễ đã viết trong quyển Hồi Ký “Tôi Phải Sống”. Nhà thơ Song Nhị đã nhắc lại vụ án nầy trong chương VIII “Bùi Đình Thi Chiêm Nghiệm Nhân Duyên Nghiệp Quả”. Chúng ta cũng sẽ thấy trong quyển sách hình ảnh nhạc sĩ Vũ Thành An, khi vào tù đã từng viết “...Nay mới biết đế quốc Mỹ là quân xâm lược. Bọn nguỵ quyền là lũ tay sai. Bao nhiêu năm cung cúc tận tụy miệt mài. Cứ ngỡ rằng mình lo việc nước...”.

Bạn đọc cũng sẽ nhận ra những con người hạ tiện vì muốn có một miếng ăn với đặc quyền đặc lợi trong tù, họ sẵn sàng làm tôi tớ cho bọn cộng sản bức hại anh em.

Nhà thơ Song Nhị tố cáo chế độ tàn ác, bất nhân của nhà tù cộng sản. Nó thể hiện rõ nhất trong chương 10 (X). Nơi giam giữ tù nhân như giam súc vật (Lý Bá Sơ, Danh Bất Hư Truyền (trang 222). Thê thảm và khủng khiếp hơn là trại tù cải tạo đã biến con người thành con vật: “...Người nào đầu cũng lớn hơn thân mình. Hai hàm răng nhô ra, cặp mắt lõm vào sâu hoẳm. Tay chân khẳng khiu như que củi...” (Đoàn Ma Đói Chờ Điểm Số Lên Đồi (trang 256). Không những hành hạ về tinh thần, bỏ cho đói khát, tuyệt vọng. Cộng sản còn hành hạ thể xác bằng cách làm lao động khổ sai đi vác đá. (Tôi Đi Giữa Đoàn Tù Vác Đá” (Trang 226).

Tàn ác hơn là hình thức kỷ luật kiên giam, đánh đập tù nhân hành sự một cách tàn bạo vì người nầy đói phải ăn cắp một bụi khoai mì: “...Người công an mở cửa một cái hầm cầu tiêu, dắt một người tù hình sự lại trước cửa hầm, bảo đứng quay mặt vào trong, rồi đưa chân lên cao tống một đạp vào lưng, người tù bổ sấp xuống úp mặt vào hầm cầu tiêu. Người công an đóng cửa hầm cầu, thản nhiên quay lưng đi...” (trang 275).

Tác giả cũng đã ghi lại những hình ảnh hiếm hoi về những người không cùng chuyến tuyến nhưng còn biết đau khổ, xót thương cho cảnh tù đày của người sa cơ, lỡ vận. Một nữ công an đem một chai nước mắm đến cho cả buồng.... và nói “chắc các anh nhớ nhà, nhớ vợ con lắm phải không?”. Nói xong, người nữ công an im lặng một lúc, hai hàng nước mắt lăn tròn trên đôi gò má...” (Trang 187).

Trong cảnh tù đày, người lính VNCH vẫn không sợ đói, khổ, hành hạ thân xác hay bị biệt giam. Họ dám phản kháng lại chế độ nhà tù bằng hành động tuyệt thực để cứu bạn hoặc chống lại hình thức ngược đãi quá đáng của cai tù ở chương 10 (X) trang 240) “Biểu Tình Tuyệt Thực Rừng Vang Tiếng Hát”. Đây là chương gay cấn, lôi cuốn người đọc.

Trong trang 188, tác giả có nhắc đến một người tù trẻ tuổi, một anh hùng. Anh cô đơn chống lại bầy sói dữ:” người bạn nói giọng rắn chắc: “Hãy ngẩng đầu lên mà đi các anh ơi. Người nầy chết có người khác đứng lên...”. Tác giả cũng nhắc đến ông Phạm Dương Đạt vì phát biểu tố cáo chế độ cộng sản, ông đã bị bắt đi biệt tích (trang 195). Có những người tù bất khuất. Họ đã chọn cái chết để giữ gìn khí tiết của một quân nhân như: Lê Quảng Lạc, Nguyễn Đức Điệp, Nguyễn Mậu, Huỳnh Văn Lượm, ...

Tác giả cũng đã gởi lại trên trang sách mình lòng biết ơn sâu sa đối với những vị ân nhân đã bền bỉ, bỏ thời gian, công sức để yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ can thiệp cứu giúp những người tù cải tạo như Cựu Đại Tướng John Vessey và ông Robert Funseth, bà Khúc Minh Thơ, Chủ Tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Bích, Huỳnh Công Ánh, Nguyễn Hậu, Linh Quang Viên, Đào Văn Bình, Giao Chỉ... và nhiều cá nhân, tổ chức hội đoàn khác đã đóng góp công sức tài vật cho thành quả giải thoát những người tù cải tạo...” (trang 420).

Đọc “Nửa Thế Kỷ Việt Nam”, độc giả sẽ soi rọi lại một góc tối khác mà chúng ta chưa biết về nhà tù cộng sản. Từng chương, từng tiểu đoạn tưởng chừng như giống nhau, nhưng phong cách diễn đạt rất mới mẻ. Với cách trình bày khoa học, văn phong trôi chảy, nhẹ nhàng, tác giả đã lôi cuốn người đọc từ trang đầu cho đến trang cuối. Chính cuộc sống dày dạn phong trần đã khiến ngòi bút của ông tuôn chảy như những dòng máu của hàng triệu người tù, của những giọt nước mắt đau khổ của toàn thể nhân dân Việt Nam từ Bắc tới Nam trong suốt nửa thế kỷ. Và hiện nay, nhà tù vẫn chưa khép lại. Nó vẫn mở rộng chào đón những người trí thức yêu nước, thương nòi mơ ước xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ, phú cường.

Tôi có thể kết luận rằng “Trí thức, yêu nước, trong sạch và nhân ái” là kẻ thù của cộng sản.
Xin được tặng nhà thơ Song Nhị 4 câu thơ:

Non nước u buồn non nước đau
Tim ta khắc khoải mắt vương sầu
Quê hương máu lệ nhoà trang sử
Ôi! Cuộc đổi đời sao bể dâu?!

Maryland, Ngày 13/11/2010

---------------------------
(Bài giới thiệu tác phẩm tại Hội Trường James Lee Community Center Theater, 2855 Annandale, Fallschurch, Washington D.C.)




Saturday, February 18, 2012

“Nửa Thế Kỷ Việt Nam” - Ý Kiến.Nhận Định (1)



 HÀ NHÂN VĂN (GS Tiến Sĩ Cao Thế Dung)

CƠN SÓNG THẦN HÁT Ô VỚI SONG NHỊ
NỬA THẾ KỶ VIỆT NAM

Năm nay, kỷ niệm 20 năm Hát Ô, Hà Nhân Văn đọc tác phẩm mới của nhà văn SONG NHỊ, cựu tù nhân chính trị HO “Nửa Thế Kỷ Việt Nam”, thật tâm đắc, nồng nàn, đầy ắp tình người. Đọc xong ta có thể lạc quan: tiếng Việt, văn Việt vẫn trong sáng, vẫn là tinh hoa Việt, nhạc Việt trong văn.

Bút ký, tự truyện của nhà văn Song Nhị, một tác phẩm thật giá trị về văn phong, văn chất, thật tâm đắc về nội dung, hiếm có một bút ký nào đạt được như vậy: Những khát vọng của con người, những đau đớn của cả một dân tộc. Và là một dòng tâm khấp – khóc trong lòng một dòng tâm thanh chất chứa một trời tâm sự, không phải của riêng tác giả Song Nhị mà là tâm sự mênh mang của cả một dân tộc trong một thời đại câm nín.

Song Nhị đã đứng phắt dậy phá vỡ sự câm nín ấy bằng tâm thanh từ trái tim mình, từ trái tim dân tộc, và từ kiếp NGƯỜI VIỆT NAM trong nửa thế kỷ. Sự thực là đã có một địa ngục Việt Nam. Song Nhị đã sống trong địa ngục ấy và đã tìm thấy được một thiên đường Việt Nam của tình nghĩa Việt, của hy vọng tuy đau thương, của oán hờn trong tha thiết và là của một nhân chứng lịch sử, tuy bão tố lịch sử nhưng vẫn lóe ra ánh sáng của hy vọng, tin yêu.

Một văn phẩm giá trị cao, bát ngát tình người và chất liệu lịch sử. Một con người là NGƯỜI trong lịch sử. Và lịch sử là thân mệnh của cả dân tộc mà con người ấy sống với –  trong danh dự và tư cách con người, rồi trước hết và sau hết là con người Việt Nam muôn thuở.
                                                      
Thủ Đô Thời Báo (Washington D.C 31/3/2010)


CAO ÁNH NGUYỆT - Chủ nhiệm/Chủ bút tuần báo Phụ Nữ Cali

... Năm mươi năm quả là một khoảng thời gian quá dài, đủ để một con người sinh ra lớn lên và bước vào tuổi xế chiều. Thế nhưng 50 năm trong cuộc đời của Song Nhị lại gắn liền với vận nước nổi trôi, gắn liền với một giai đoạn lịch sử đầy đau thương và xót xa nhất của dân tộc... Song Nhị không những viết về những tháng ngày tù đày gian khổ và tuyệt vọng, cùng sự chịu đựng tủi nhục của ông và bạn tù mà ông còn làm công việc của nhà biên khảo lịch sử.
Điều này rất cần thiết cho thế hệ con cháu chúng ta về sau. Với cái nhìn sâu sắc, tinh tế, của một người cầm bút, những tài liệu mà ông cung cấp trong Nửa Thế Kỷ Việt Nam thật giá trị...

(trích giới thiệu tác phẩm tại San José - tuần báo Phụ Nữ Cali số 205, ngày 16/4/2010) 


LÊ VĂN HẢI - Chủ nhiệm tuần báo Thằng Mõ Bắc California

Nửa Thế Kỷ Việt Nam theo tôi là tiếng rên xiết của cả một dân tộc dưới một chế độ bạo tàn tắm máu nhất trong lịch sử Việt Nam. Nửa thế kỷ Việt Nam đã thiêu rụi gần 10 triệu người trong cuộc chiến tranh Bắc Nam, cuộc chiến ý thức hệ giữa Tự do và Cộng sản. Không phải thời điểm 30-4-75 và sau đó cả hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH bị lùa vào các trại tập trung cải tạo, gần nửa triệu người vượt biên, lấy biển xanh và rừng thiêng nước độc làm mồ chôn, mới là thời điểm đau thương nhất của lịch sử, niềm đau thương, mất mát của cả một dân tộc đã bắt đầu từ năm 1945 mà tác giả Song Nhị là người đã được chứng kiến khi mái đầu còn xanh.

Tuổi vừa mới lớn, tâm hồn phơi phới yêu thương như tờ giấy trắng, tác giả được chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu 1945 với cảnh con người còn tàn tệ hơn súc vật. Kế đó chế độ cộng sản đã tạo ra những con người mất hẳn nhân tính qua hình ảnh cuộc Cải cách Ruộng đất mà chính gia đình ông, cha mẹ ông là nạn nhân.

Riêng tôi, nói như nhà thơ Vũ Hoàng Chương “Lũ chúng ta sinh ra nhầm thế kỷ”. Từ khi chào đời hơn một tháng tuổi, tôi đã là người vượt biển di cư vào Nam trên con tàu há mồm. Mẹ tôi chỉ biết tuyệt vọng nghĩ rằng “Nếu tôi có chết cũng chỉ biết quăng xuống biển mà thôi”, nên biển là tên tôi. Sau năm 1975, hai đứa em tôi bỏ mình trên đường vượt biển đi tìm tự do.

Nửa Thế Kỷ Việt Nam, bài học Phù Sai, Câu Tiễn nằm gai nếm mật, ôn lại những thương đau để từ đó vùng lên đạp đổ, dẹp bỏ một chủ nghĩa phi lý đã đè nặng trên quê hương đất nước ta hơn nửa thế kỷ qua.

[Trích diễn văn khai mạc buổi ra mắt tác phẩm ngày 11 tháng 4, 2010
Tin Việt News số 725 và Thằng Mõ thứ sáu 16-4-2010]

Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...