Monday, January 14, 2013

Lời Rao Giảng Của Thơ – Nguyễn Thùy (Kỳ 3)



Ra Đi - Hành Trang Chặng Đường Đến, Ở  
 

THƠ, 'Tiếng nói trăm năm vào đời cứu rỗi'. Thơ cứu rỗi con người. Không có thơ, Nguyễn Chí Thiện đã rữa xác trong tù; không có thơ, chàng sẽ không có một công trình sáng giá góp cho đời. Thơ đã cứu sống Nguyễn Chí Thiện; Thơ đãø làm 'địa ngục nở hoa' nơi chàng (nhan đề tập thơ 'Hoa địa ngục' của NCT). Thơ đã biến Nguyễn Chí Thiện thành nhân vật lịch sử một thời. Nguyễn Chí Thiện làm thơ không để trở thành thi sĩ. Thơ đến với anh, bắt anh phải 'đảm đương' một vai trò lịch sử  trong dòng lịch sử dân tộc, qua thơ. .
Một câu thôi 'Tiếng nói trăm năm vào đời  cứu rỗi', Song Nhị đã nói lên cái hoằng viễn, thâm sâu, u trầm, kín nhiệm, muôn đời của Thơ.  Song Nhị đã vào đời với thơ, vào quân ngũ, vào chiến trận với thơ.  Nơi anh, người dân, người lính, người thơ quyện vào nhau. Người 'chiến sĩ nghệ sĩ' không đi tìm vinh quang trong chiến thắng. Cái vinh quang của họ ở nơi trọn vẹn nghĩa vụ, ở nơi cái 'sứ mạng lịch sử ' của thời đại dù có phải vì bắt buộc mà dù có phải bị bắt buộc, họ cũng đã sống với thơ. Toàn bộ thơ anh không nói gì đến chiến thắng, chiến công, đến những hãnh diện, tự hào, oanh liệt ngày qua sau một 'thành công' nào đó đánh bại quân thù. 'Tiếng hờn chiến mã' là tiếng hờn vì nghĩa vụ không tròn, vì tình yêu không trọn vẹn để phải đau thương cho dân, cho nước, cho nhà. Người 'chiến sĩ nghệ sĩ' đi vào chiến trận với hình ảnh 'người dân nơi người lính' chứ không phải 'người lính nơi người dân' hay chỉ là người lính đơn thuằn. Người 'chiến sĩ nghệ sĩ' chiến đấu để bảo vệ người dân qua người lính. Điều nầy thường không mấy ai để ý và khó rõ ràng nói ra. Đi vào thơ, không phải để trở thành thi sĩ; đi vào chiến đấu không phải để tìm vinh quang. Mộng trở thành thi sĩ sẽ giết chết thơ; mộng tìm vinh quang sẽ giết chết ý nghĩa chiến đấu, hay sẽ khiến chiến thắng không còn vinh quang mà là cuồng bạo. Nhà khoa học ra công tìm tòi, nghiên cứu không để mong trở thành nhà thông thái; nhà triết học mong tìm một hướng đi, một giải quyết nhân sinh không phải để được là triết gia. Người làm thơ cũng thế; người chiến sĩ cũng thế. Người hiệp sĩ trở thành hiệp sĩ vì đã cứu người chứ không phải muốn được là hiệp sĩ nên mới cứu người. “Bảo vệ người dân qua người lín”, ý nghĩa chiến đấu nằm ở đấy. Và, có thể phần nào đấy là cái 'triết lý' ẩn tàng nơi thơ Song Nhị dù anh chẳng bao giờ triết lý:                                     
Xin từng đốt ngón tay mỏi mòn lời hứa hẹn                                       
Xin ngày tháng dài ao ước đơn sơ                                       
Xin một lần gõ cửa gọi tên người còn đáp lại                                       
Xin cho quay về nhận diện ấu thơ                                                                              
Xin bồng súng chào mừng đồng loại                                       
Nhận huấn lệnh đi vào cuộc đời                                       
Sự khởi đầu bằng vết hằn ký ức                                       
Và gió mưa luân vũ quay cuồng                                       
Những đứa bạn nằm yên dỗ giấc                                       
Cũng thôi                                       
Hạnh phúc vẹn toàn                                      
.............                                      
Xin bài kinh cầu trổi thành nhạc khúc                                      
Một phút an ủi vỗ về                                      
Một phút bình yên trên vùng ảo tưởng                                      
Ôm tròn hoài niệm quay đi                                      
Sự có mặt của những ngày dẫy đầy triệu chứng.                                                               
     (Tình ca nhập cuộc – VLĐX)
“Nhận diện ấu thơ” trong sự “có mặt dẫy đầy triệu chứng”, giữa “luân vũ quay cuồng”, giữa “vòm trời ảo tưởng”. “Nhận huấn lệnh đi vào cuộc đời”, huấn lệnh nơi đây không hẳn là 'mệnh lệnh' của cấp chỉ huy hay của Đảng và Nhà Nước, nếu nói về phía những người bên kia. 'Huấn lệnh đi vào cuộc đời' là sự 'bắt buộc phải 'ra đi' do “thiết yếu của cõi đời nhân gian”, do 'điều biết tự trời'; huấn lệnh đó là cái nghĩa vụ phải gánh vác do đòi hỏi của thiết yếu lịch sử. Làm tròn nghĩa vụ đó là vinh; không làm tròn được không là nhục. Cái 'nhục' ở nơi tránh né cái nghĩa vụ đó hay đưa cái nghĩa vụ đó đi sai đường lịch sử. Hân hoan nhận cái nghĩa vụ lịch sử đó (bồng súng chào mừng đồng loại) đi vào cuộc đời. “Chào mừng đồng loại”: chào mừng thân nhân, bạn bè, chiến hữu, chào mừng mái ấm gia đình thân thương, có thể chào mừng cả nhân loại trong việc 'ra đi' do sứ mạng lịch sử đó, do từ 'vết hằn ký ức'. Ký ức nào? Gần gũi là ký ức Quê hương, Tổ quốc; cao rộng, thâm sâu hơn, đấy là ký ức về Cội nguồn mà Song Nhị đã nói. Victor Hugo cũng đã nói trước đây:                                  
Mọi điều đã được nói.
Điều xấu cáo chung; lệ buồn chấm dứt; không còn xiềng xích tù gông, không còn tang ma, không còn báo động. Hố thẳm khắt khe không còn câm nín, (mà) bập bẹ lên lời: tôi nghe gì?                                   
Đau khổ nhân sinh tan đi trong mọi vùng bóng tối; Thiên sứ từ cao lớn tiếng gọi mời : Nguồn cội! (5)
      “Xin cho quay về nhận diện ấu thơ”; nhận diện là nhìn ra, thấy lại, sống lại. Tuổi ấu thơ con người cùng cái Cội nguồn nguyên khởi bao giờ cũng bình                      dị, đơn sơ, thuần nhiên, thánh khiết, vô ưu. 'Xin được như vậy'(Ainsi soit-il, bốn câu thơ đầu trích trên). Và những người nằm xuống? Họ còn mãi ôm 'hằn ký ức', 'ôm tròn hoài niệm'; họ đã không may mắn nhìn lại được 'tuổi ấu thơ' của Quê hương, Dân tộc, của chính mình, của Cội Nguồn nguyên thể thì xin “bài kinh cầu” (requiem) đừng cần thiết gọi hồn họ siêu thăng mà hãy trở thành tiếng nhạc, lời thơ vỗ về họ một phút bình yên giúp họ được 'quay đi', không còn phải đối diện với 'sự có mặt của những ngày dẫy đầy triệu chứng' đang còn phải diễn ra.
Song Nhị 'ra đi', - 'đi vào chiến đấu' - với ý tình như thế. “Xin tiếng nói đây em, Một lần từ biệt, Xin tiễn đưa bằng nỗi nhớ xa xôi, Xin con tàu vào viễn lộ hoàng hôn, Sương mù biển lặng, Gom hết đau thương đốt lửa giữa trời” (Tình ca nhập cuộc). Bài thơ được viết năm 1969 giữa lúc súng giặc vang rền khắp nẻo quê hương. Ba mươi ba năm sau (năm 2002) nơi xứ Mỹ, ý tình đó vẫn theo anh:                                       
Sông với núi và trăng sao cây cỏ                                       
Em và tôi và tất cả muôn loài                                       
Đã hiện hữu trước ý đồ tạo hóa                                        
Đã căn phần tự thuở mới phôi thai                                       
Tôi đã đến, đã đi và sẽ tới                                        
Cuộc trăm năm đoái tưởng chữ vuông tròn                                       
Khi nhân ảnh khuất sau vừng nhật nguyệt                                        
Xin gửi người còn lại khoảnh lòng son                                                           
    (Lời Mặc Khải Của Tiền Thân)
Hiện hữu không do từ ý muốn của riêng ai mà do 'ý đồ tạo hóa', do từ 'căn phần tự thuở mới phôi thai'. Đi vào cuộc đời là đi vào 'viễn lộ của hoàng hôn', nói theo Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều:                                     
Cái quay búng sẵn lên trời                                       
Lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm                                                            
    (Cung oán ngâm khúc)
thì phải lần mò bước đi trong đêm tối bủa vây. Cái quay phải quay, không được từ chối ngưng quay. Nhưng không phải vì thế mà không chịu nhìn ra hướng mình quay và điều chỉnh dòng quay thế nào cho thuận theo ý mình, thuận theo cái lý vận hành của Tạo hóa. Thuận Nghiệp chính là để 'Cải Nghiệp'. Cải nghiệp bằng: “Gom hết yêu thương đốt lửa giữa trời”. 'Đốt lên, đốt cho bừng sáng giữa trời bao la chất lửa yêu thương' để mai kia vĩnh viễn ra đi giã từ cõi thế, “khi nhân ảnh khuất sau vừng nhật nguyệt”  (parting is all we need of hell) được “gửi người còn lại khoảnh lòng son”. “Khoảnh lòng son”, vâng, chỉ thế, đơn sơ chỉ thế nhưng khó khăn thay và mấy ai chịu nghĩ, chịu làm. 'Lưu thử đan tâm chiếu hãn thanh'  (lưu lại tấm lòng son cùng sử sách – Nguyễn Công Trứ : Chí làm trai).
Giản dị quá đi thôi! Nhưng giữa cảnh 'chợ trời' nham nhở tranh đoạt lợi danh, quyền uy, chức vị, nào mấy ai đủ nghĩa khí, can trường thực hiện, ngoài một số ít người luôn nuôi dưỡng nơi mình 'khí hạo nhiên chí đại chí cương' (Nguyễn Công Trứ: Kẻ sĩ) và ngoài nhà thơ, những nhà thơ thực sự là nhà thơ, những nhà thơ đi vào cuộc đời với cả tâm hồn người dân chất phác, người chiến sĩ kiên cường và người nghệ sĩ lãng mạn, bát ngát yêu thương trang trải tình người thanh tân, thánh khiết đem 'Thơ vào đời trăm năm cứu rỗi' . Đấy  là sứ  mạng của Thơ,  của nhà thơ, những nhà thơ lớn của thời đại nguy nan (poètes en temps de détresse - M. Heidegger), những nhà thơ lớn vào thời tận cùng của một giai đoạn lịch sử bi thương của thế giới (lời Holderlin, trích trên). 
Lời thơ có sức mạnh thuyết phục, nâng cao ý chí, khí lực con người, gieo tin tưởng vào cõi lòng đang sầu héo trong mọi bất hạnh đang diễn ra cho mình, cho nước, cho dân. "Tôi đã đến, đã đi và sẽ tới", lời thơ tuôn chảy, không chút vấp váp nào như một xác quyết, khẳng định với mình, với người. Cuộc sống là một hành trình "Ra đi, Đến ở, Trở về"  lúc bế tắc, lúc hanh thông nhưng bao giờ cũng dẫn đến thời điểm 'tới nơi" với những ai bền tâm, tráng chí kiên trì trong chí hướng làm đẹp người, đẹp đời, đẹp đạo,...
Bao nhiêu bài nữa nhưng xin dừng. Bàng bạc trong thơ Song Nhị những ý tình xa xôi, hoằng viễn đó, những ý tình triết lý về ý nghĩa làm người, ý nghĩa cuộc sống, có thể do xuất thần cảm ứng mà anh không biết, không ngờ. Nhưng dù do xuất thần thì cũng đã do từ lâu rồi tiềm tàng nội tại trong tâm tư phát sinh từ bản chất nghệ sĩ vừa hạo nhiên vừa lãng mạn. Xin sống với cái tâm hồn 'chiến sĩ - nghệ sĩ' nơi anh để nhận ra phần nào kín nhiệm nơi thơ anh.  
Với tâm hồn đó, Song Nhị đã đi vào chiến trận với hình ảnh 'người dân nơi người lính'. Điều nầy, người lính Mỹ đồng minh không thể nào hiểu được (6). Cả những lính Việt Nam bên kia chiến tuyến. Họ - những người Cộng sản - đi tìm vinh quang không cho người dân, có thể không cả cho người lính mà chỉ cho họ, cho tập đoàn Cộng sản, cho chủ nghĩa, cho cái 'ý thức hệ' riêng tây của họ. Họ đã biến người dân thành người lính, họ bảo vệ người lính hơn người dân. Họ đã xua hàng trăm, hàng ngàn người dân đi trước lính trong những cuộc tấn công. Chiến thuật 'biển người' đã giết hàng loạt nguời lính và người dân. Họ - người Cộng sản - biến người lính không còn là người dân để họ tìm vinh quang trong chiến thắng và để người lính được nhận phần thưởng 'liệt sĩ, anh hùng' (!). Họ biến người lính thành từng cầu thủ bóng tròn, thành từng võ sĩ  quyền anh, những 'sát thủ' hay những 'giác đấu' phải thắng mọi đối thủ để được Đảng tặng thưởng tiếng 'anh hùng' đem vinh quang (!) về cho Đảng (7). Tất cả đều thuộc về Đảng và Nhà nước, nằm trong vòng tay, khuôn khổ của Đảng và Nhà nước, cả đất nước, tôn giáo, pháp lý và lịch sử cũng thế. Xin không dông dài để khỏi bị gán ghép là 'tố Cộng'. Quang Dũng, một chiến sĩ nghệ sĩ thời chống Pháp đã không theo văn nghệ của Đảng nên bị đánh giá là 'lãng mạn tư sản' nên bị thất sủng. Và bao người như thế cho mãi đến nay, không cần kể nói nơi đây. Người lính không mang theo hình ảnh người dân nơi mình, không 'bảo vệ người dân nơi người lính' thì chỉ là người lính đánh thuê, người lính của lực lượng xâm lăng hay công cụ trong tay kẻ độc tài. bá đạo.
Song Nhị không đề cập đến điều nầy nhưng qua thơ anh, ta mơ màng nhận ra tính cách chiến đấu theo tinh thần 'hiệp sĩ  hùng anh' nơi người lính, nơi người 'chiến sĩ' đúng nghĩa là 'chiến sĩ '.     
Do bản chất 'người dân, người lính, người nghệ sĩ', quyện vào nhau, thơ Song Nhị kết hợp cả hai tính chất cổ kính của thơ xưa với tính lãng mạn của thơ nay. Trong “Tiếng hờn chiến mã”, lời thơ phảng phất không khí Đường thi qua các bài Thất ngôn, ngũ ngôn tứ tuyệt hay những bài ít nhiều theo lối cổ phong. Ta đọc ra cái phong thái hạo nhiên, cái khí tiết kiên cường của kẻ sĩ phu yêu nước trước đây, cái dũng của con người hào kiệt, nguy nan, gian hiểm dạ chí không sờn. Có buồn đau vì nghĩa vụ không tròn, vì lâm vào thế phải 'gãy kiếm cung' thì cũng là cái buồn đau, than thở, ngậm ngùi chung do thời không xuôi, thế không thuận chứ không rũ liệt, nát tan, nhục nhã để phải tự mình đánh mất khí tiết hùng anh. Qua thơ Song Nhị, ta như sống cái không khí 'Kẻ sĩ' của một Nguyễn Công Trứ ngày nào.
Những bài làm theo thể thơ mới, tự do và nhất là Lục bát, phần lớn nơi 'Về lối đi xưa' chan chứa tình cảm ngọt mát tính chất trữ tình, tha thiết, mặn nồng, cảm động. Lời thơ như tuôn chảy, dàn trải, mở phơi tình tự. Hình ảnh trong thơ không nơi từ ngữ mà nơi văn ảnh tức hình ảnh của toàn bài chứ không chú trọng nơi một ẩn dụ, một biện pháp tu từ nào. Bài “Sáng lại lòng con” là một điển hình. Mượn một hình ảnh hiện thực “Cặp kính viễn mẹ cha cho con”  chuyển thành văn ảnh mang tính chất ẩn dụ vừa nói lên tình cha nghĩa mẹ đậm đà, cùng công khó và ý tình mẹ cha vừa mang chứa ít nhiều tính chất triết lý. 'Cặp kiếng' mẹ cha trao cho không chỉ để giúp con nhìn đọc tỏ tường mà trở thành 'cặp kiếng của lương tâm', của 'trí tuệ', của 'tấm lòng' nhìn rõ mình, rõ người, rõ nhân tâm, thế sự, rõ tình đời, vận nước; cặp mắt già vì số tuổi, vì buồn đau, vì truân chuyên, nhục nhằn, khổ nạn, cặp mắt đã mờ, cặp mắt sáng lại:                                    
Con đã thấy đã nghe đã hiểu rồi                                       
Thưa mẹ                                       
những gì rất đáng yêu                                       
những gì rất ghê sợ                                       
con đã đến đã đắm mình trong đó                                        
tha thiết trong yêu thương                                                     
dạn dày trong đau khổ                                       
sôi sục trong hờn căm                                       
con lớn lên theo năm tháng nhục nhằn                                       
mắt con đã mờ                                       
mắt con sáng lại.                                                      
    (Sáng Lại Lòng Con – THCM) 
Tính chất trữ tình nơi đây, phần nào do tính cách hạo nhiên của kẻ sĩ, đã vượt lên trên 'mặt bằng tình cảm' thường ngày, hướng đến một thứ tình yêu lung linh, diệu vợi, thiêng liêng nào khác:                                   
Tôi trải lòng mình                                                              
tiếng yêu thương mời gọi                                                     
xin mặt trời soi                                    
vườn tỉnh ngộ nở hoa                                                                          
   (Thông điệp từ địa chỉ New York 9/11 Gởi loài người)

Thơ Song Nhị là loại thơ chiến đấu, không phải cổ vũ đấu tranh vì hận thù mà chiến đấu cho một lẽ sống không còn gian trá, giả hình, một cảnh sống trong tình thương, trong Lẽ Thật, trong cái "ĐẸP" của tình người đôn hậu, thuần nhiên, chiến đấu cho một cảnh đời ngọt ngào ân ái, luôn luôn an bình, hạnh phúc, đâu đâu cũng là Đất Trời Quê Hương luôn mùa Xuân hoa nở. Cái "lãng mạn" nơi thơ anh không là cái "lãng mạn    sản", cái  lãng  mạn  của "tình tự mặt bằng" mà là thứ "lãng mạn chiến đấu”, thứ lãng mạn hào hùng của người  chiến sĩ nghệ sĩ đấu tranh cho nhân đạo, nhân quyền.
Ngoài một số bài ngậm ngùi về  cảnh phải 'ngã ngựa' và một số bài nói về cảnh 'đổi đời tê tái' của Cộng sản phủ trùm lên đất nước, nhân dân, nhìn chung, thơ Song Nhị luôn luôn nói đến 'tình người', không chỉ giới hạn nơi những mối tình thiết tha cao quý ai cũng hằng mong trong cuộc sống hằng ngày (yêu mẹ cha, chồng vợ, con cái, bạn bè, yêu Tổ quốc, nhân dân,...) mà còn hướng đến một tình yêu thăng hoa con người cùng cuộc sống, cuộc đời để cả mặt đất bình yên, cả nhân loại không còn trong bóng tối quỷ ma. Xin mượn lời thơ của Victor Hugo trong bài “Bên bờ vô hạn” (au bord de l'infini) để kết thúc bài viết nầy và cũng để phần nào nói lên cái 'Tình Yêu' thánh thiện, thiêng liêng mà Song Nhị ước mong được thấy dựng xây cho tất cả mọi người nơi cõi thế, thứ tình yêu Song Nhị đã đem theo mình trong chiến đấu, trong ngục tù cải tạo, trong thân phận lưu dân nơi xứ người qua suốt cuộc hành trình 'Ra đi, Đến ở, Trở về' biểu hiện qua Thơ “Tiếng nói trăm năm vào đời cứu rỗi”:
Giờ đã đến. Hy vọng lên.
Thắp sáng lại linh hồn lịm tắt                                 
Thương yêu nhau! Thương yêu nhau!
Vì là lửa ấm thiêng liêng                                              
Lửa của ngày thực sự bình yên,                                  
Vũ trụ mịt mờ, giá buốt, ăm ắp đảo điên                                  
Đang hỏi đòi nhân thế thăng hoa bởi
ngọn lửa thiêng                                            
Và con người bởi tình yêu vô hạn. (8)
                                                                                                                              
NGUYỄN THÙY                                                                             
Grenoble (France) 15/11/2002

---------------
Chú thích:
1) Hai câu thơ, tôi không nhớ được chép lại nơi sách nào (có thể từ một sách của Bùi Giáng). Ngày ở Pulau Bidong (1989), tôi có đọc một 'Tuyển tập thơ tiếng Anh'. Không biết tiếng Anh, tôi chỉ 'nhìn' qua số vốn liếng tiếng Pháp ít oi và nhờ vào Tự Điển. Từ 'Parting' có thể dịch là 'chia ly, biệt ly, từ ly, vĩnh ly'; tôi dịch theo tiếng thuần Việt là 'Ra đi'. 'Hell' có nghĩa là 'địa ngục', có thể dịch là "cõi âm", "âm cảnh" hoặc "đời nhà ma". Nhưng đã vào địa ngục thì không còn 'ra đi' nữa; do đó từ 'hell' nơi đây chỉ cõi sống trần gian dẫy đầy tội lỗi khổ đau, nên tôi dịch là 'đời nhân gian' phỏng theo lời thơ Nguyễn Du trong truyện Kiều: "Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian".. Lời thơ Emily Dickinson đã gợi ý tôi làm đôi bài thơ, xin trích đôi đoạn:
a) Hỡi Thượng Đế, u sầu chi quá đổi  
Chẻ chia mình để giải tỏa cô đơn    
Tự chứng quả giữa dòng đời trôi nổi    
Đi tìm yêu trong đáy thẳm tình buồn…..

Người tìm lại dung nhan Người buổi đó
Trải u sầu đen tím gót nhân gian
Bước dịch chuyển theo trang đời lổ đổ
Để dời đô lên ngự đỉnh Thiên đàng. 
           
b) Em giả từ nguyên sơ
Vào nằm dòng sử máu
Gieo linh hồn nghiệp báo
Sầøu nhân quả bơ vơ….. 
2) L' heure la plus sombre est juste avant l'aurore – Arnaud Desjardins : 'Regards sages sur un monde fou', édt. La Table Ronde, No 2938, Paris 1997, trang 280, câu cuối cùng của sách
3) 'Tổ quốc, Kiều địa, Cố hương' (Patrie, Colonie, Sol natal). Xin không đi vào Đạo học vì quá dông dài và khó hiểu. Xin nói về người Việt hải ngoại hiện nay. Chúng ta đã phải rời Tổ Quốc (Quê Hương, Đất nước) ra đi, 'đến ở' nơi miền Kiều địa (đất khách, quê người), luôn luôn khao khát và quyết tâm 'trở về' với 'Cố hương' (cố quận) để làm đẹp Tổ Quốc, Quê Hương với bao hành trang tích lũy qua chuổi ngày phiêu lưu nơi đất khách. Về mặt Đạo học (Ontologie, Philosophie de l' Eâtre), Tổ Quốc chính là Cội Nguồn phát sinh vũ trụ hiện tượng, Kiều địa là cõi sống thế gian (cõi Diệu hữu theo Phật giáo) với vô vàn hiện thể vật và người luôn luôn biến đổi vô thường; Cố hương hay Cố quận là sự quy hồi, hồi phục của Tổ Quốc, Cội Nguồn trong một trạng thái tròn đầy, viên mãn, tốt đẹp hơn thưở ban đầu.  Phần nào lời thơ Emily Dickinson và tấm 'gương cũ' trong lời thơ Bà Huyện Thanh Quan (nghìn năm gương cũ soi kim cổ) mang ý nghĩa đó. Thơ Song Nhị tiềm tàng ý nghĩa cao rộng nầy. 
4) En général, les poètes se sont formés au début ou à la fin d'un âge du monde. C'est avec les chants que les peuples descendent du ciel de leur enfance pour entrer dans la vie active, au pays de la culture. C'est avec des chants qu'ils s'en retournent à la vie originelle. L'art constitue la transition de la nature à la culture, et de la culture à la nature – Holderlin – Trích dẫn bỡi M.Heidegger trong tác phẫm 'Holderlin Hymnen', bản dịch Pháp ngữ "Les Hymnes de Holderlin" của Francois Fedier và Julien Hervier, nrf, Gall. Paris 1988, trang 33. (Từ 'nature' nơi đây, xin không hiểu là 'thiên nhiên' mà là 'bản thể của tự nhiên' (le naturel de la nature).                            
5) Đoạn cuối bài trường thiên 'Au bord de l'infini' (Bên bờ vô hạn) của Victor Hugo:
Tout sera dit. Le mal expirera; les larmes
Tariront; plus de fers, plus de deuils, plus d'alarmes;
L'affreux gouffre inclément
Cessera d'être sourd, et bégaiera: Qu' entends-je?  
Les douleurs finiront dans toute l' ombre; un ange
Criera: Commencement!
('Commencement' không nên hiểu là 'bắt đầu' hay 'khởi đầu' (début) mà là 'Khởi nguyên' hay 'Cội Nguồn'. Sự khác biệt giữa 'khởi đầu' và 'khởi nguyên', xin không nói nơi đây vì sẽ dông dài).
6) Một số phim Mỹ cho ta thấy người lính Mỹ hầu như chỉ được huấn luyện trở thành 'đấu thủ' để quật ngã hết mọi đối thủ như trong phim Rambo với tài tử  Sylvester Stalone. Một số phim Mỹ khác chỉ chiếu cảnh chiến đấu của lính Mỹ với đối thủ của họ là Việt Cộng mà không đề cập gì đến những chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Người lính Mỹ cùng cấp tướng tá và ngay cả các viên chức Chính quyền Mỹ ở Nhà Trắng, ở Ngũ Giác Đài không bao giờ nhìn ra cái khó chịu của người lính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt buộc phải tuân theo những kế hoạch hành quân, những kỹ thuật chiến đấu nhà nghề theo lối 'đấu thủ', 'giác đấu' của họ. Người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng kiên cường, gan dạ, bất khuất, hiên ngang nhưng không trong tính cách 'đấu thủ' và 'đối thủ' trong 'đọ sức' để tìm vinh quang cho cá nhân. Họ - người Mỹ - không bao giờ nhìn ra cái tính cách 'người dân nơi người lính' của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa (dĩ nhiên, tôi không nói đến những hạng 'lính kiểng', những cấp tướng tá di sản của Quân đội Pháp cùng những thứ tướng tá do hối lộ hay cách nào khác để được lên lon đều đều).
7) Như  những 'Nguyễn Văn Trổi, Nguyễn Văn Bé' và bao bao nữa qua sách báo Cộng sản.
8) Đoạn thơ cũng trong trường thiên 'Bên bỡ vô hạn' của Victor Hugo:                               
L' heure approche. Espérez. Rallumez l' âme éteinte!                    
Aimez-vous! Aimez-vous! Car c' est la chaleur sainte,
C'est le feu du vrai jour,            
Le sombre univers, froid, glacé, pesant, réclame    
La sublimation de l'être par la flamme,
 De l'homme par l'amour!
(Victor Hugo: Les Contemplations; nrf Poésie/ Gallimard, Paris  2002, trang 407)

 


No comments:

Post a Comment

Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...