Saturday, March 31, 2012

chân dung những người tình















1.
Em từ vườn cấm bước ra
nhặt ba hạt dẻ bỗng òa lên reo
biết đâu là phận giàu nghèo
biết đâu là chốn cung triều đế vương!

2.
Em từ pho truyện cải lương
bước lên sân khấu diễn tuồng Kiều nhi
mười lăm năm ấy còn gì
đố trong thiên hạ ai bì kịp em!

3.
Em từ nệm ấm chăn êm
choàng tay vói mộng vẽ thêm bóng hình
chợt khi nghĩ lại nghĩa tình
về soi gương cũ nhận mình không ra!

4.
Em từ đài các kiêu sa
màn che trướng rũ lụa là gấm nhung
rồi khi đời nổi bão bùng
em ra giữa chợ hứng chung phận người!
 
5.













Em từ phận gái giữa đời
Cũng nên danh giá cũng thời sắc hương
Tài hoa soi bóng lược gương
Xưa nay nhi nữ phi thường mấy ai!

6.
Em từ đỉnh mộng tháp đời
vào mâm chữ nghĩa vẽ vời thực đơn
em từ ấm áo no cơm
cái danh cái giá cái thơm với người.

chào em chào mắt môi cười
chào hương chào sắc chào thời nguyên trinh
“cho hay là giống hữu tình”
ồ! sao em lại bất bình với ta?
thôi, về điểm phấn tô hoa
không nên nhà nọ cũng là nhà kia.

Song Nhị


Saturday, March 24, 2012

Chế Lan Viên - Ai? Tôi!















Mậu Thân hai nghìn người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có ba mươi
Ai chịu trách nhiệm về cái chết hai nghìn người đó?
Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.

Chế Lan Viên
1987

Tuesday, March 20, 2012

Công Chúa Huyền Trân Trong Hành Trình Đại Việt



Bài viết này cùng một số đoạn thơ minh họa riêng cho vở kịch thơ “Huyền Trân công chúa”, cùng với nữ nghệ sĩ Kiều Loan bảo trợ phần văn nghệ trong chương trình ca vũ nhạc kịch của Hội Sinh Viên Đại học Berkeley, trình diễn tại Henry J. Kaiser Convention Center, thành phố Oakland chủ nhật 21-4-96. - Ghi chú của SN. 
= Bích chương buổi văn nghệ của SV Berley, California.
                                                                     
Chiêm Thành là vương quốc Champa, một quốc gia hùng mạnh có lãnh thổ từ núi Hoành Sơn, Quảng Bình kéo dài đến đồng bằng sông Đồng Nai ở phía Nam (Champaka No 1-1999*). Các sử liệu trước đây cho rằng Chiêm quốc chỉ kéo dài tới Phan Thiết, Bình Thuận. Vương quốc này đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới sau cuộc Nam tiến ồ ạt của lân quốc phía Bắc, kéo dài trong hơn sáu thế kỷ (từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 17). Cuộc xung đột giữa Chiêm Thành và Đại Việt khởi sự từ năm 982 khi quân Đại Việt tiến vào chiếm đóng thủ đô Indrapura ở Quảng Nam (* tr.14 sđd). Và đất nước Chiêm Thành mở đầu thời kỳ suy yếu kể từ sau cái chết của Chế Bồng Nga, một vị vua lừng lẫy với nhiều chiến công oanh liệt trong suốt 30 năm trị vì (1360-1390). Đến đầu thế kỷ thứ 19 Chiêm Thành thực sự bị xóa tên trên bản đồ thế giới dưới triều Vua Minh Mạng, sau cuộc nổi dậy bị dập tắt của Kartip Sumat (1834-1835).

Có thể nói lịch sử Chiêm Thành gắn liền với vận mệnh mất còn của hai triều đại Chế Mân và Chế Bồng Nga. Nhưng nguyên nhân chính yếu đưa đến nạn diệt vong của vương quốc Chàm là chính sách Nam tiến của triều đình Đại Việt.
Nói về cuộc tình giữa Chế Mân và Huyền Trân Công chúa, theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: "Tháng ba năm Tân sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã truyền ngôi cho con là vua Trần Anh Tông, hiệu Hưng Long thứ 9. Thượng hoàng đi tu ở núi Yên Tử, thường muốn lịch lãm núi sông, ngao du sơn thủy trong thiên hạ, ngài đi đến phía Nam, rồi sang tới Chiêm Thành". Dừng bước tại vương quốc Chiêm Thành hoang sơ, hoa ngàn cỏ nội nhưng không kém phần hùng tráng trong nét uy dũng của đền đài ảnh hưởng nền văn minh Ấn độ, Thượng hoàng không khỏi bồi hồi nghĩ đến trang quốc sắc thiên hương đất Chàm, nàng Vương phi Mỵ Ê. Mỵ Ê là Hoàng hậu Chiêm quốc vào thời vua Sạ Đẩu (Hari Varman III), kinh đô là Phật Thệ (Vijaya).

Vào đời nhà Lý, Chiêm Thành và Đại Việt thường dấy loạn can qua. Năm 1044, vua Lý Thái Tông (1028 -1054) ngự giá đánh Chiêm, thúc quân tràn vào Phật Thệ, chiếm kinh đô Chàm, bắt được hơn 5000 người và 30 con voi. Tướng Chiêm là Quách Gia Gi chém đầu vua Sạ Đẩu rồi xin hàng. Lý Thái Tông ca khúc khải hoàn, bắt Vương phi Mỵ Ê và các cung nữ đem về. Khi thuyền vua xuôi theo sông Đáy đến sông Lý Nhân, Thái Tông cho lệnh đòi Mỵ Ê sang hầu. Mỵ Ê than rằng "Vợ mọi quê mùa, khôn sánh những bậc Cơ Khương, nay nước mất nhà tan, chỉ còn một thác mà thôi ..." Nàng tắm rửa, xông xạ hương rồi quấn chăn gieo mình xuống sông mà chết. Lý Thái Tông cảm kích lòng trinh tiết, phong nàng Mỵ Ê là "Hiệp Chánh Hộ Thiện Phu Nhân", nay ở phủ Lý Nhân (Phủ Lý, Hà Nam) còn có đền thờ .
Từ khi nhà Trần lên ngôi, giữa Đại Việt và Chiêm Thành đã có phần yên ổn. Tại kinh đô Phật Thệ, Hoàng tử Hari Jit lúc ấy đang ở ngôi, tức là vua Chế Mân (Jaya Simha Varman III ). Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vua Chế Mân là người ở Tượng Lâm, thành Điển Xung, đất Việt Thường. Nhà cổ học L. Aurousseau ghi lại Tượng Lâm là một huyện nằm ở phía Nam quận Nhật Nam (về sau là Đại Việt). Người Tàu gọi Tượng Lâm là Siang Lin (Rừng Voi) tồn tại từ năm 192 đến năm 758, về sau đó chính là nước Chiêm Thành. 

Theo nhà khảo cổ học Jean Yves Claèys, vương quốc Lâm Ấp trải dài từ Đèo Ngang đến Thuận Hải, chia làm bốn vùng: Amarâvaty từ Quảng Bình đến Quảng Nam, Quảng Ngãi. Vijaya, từ Bình Định đến Phú Yên. Kauthàra là Khánh Hòa và Panduranga là Phan Rang, Ninh Thuận. Po Dharma trong Champakar gọi đó là những tiểu vương quốc trong vương quốc rộng lớn Champa. Hai vùng phía trên là miền Bắc nước Chiêm (septentrionale), thuộc thị tộc Cau (Kramukavamsa), tiếng Chàm là Pi Năng, hậu duệ người miền núi (Atâu Chơk). Hai vùng dưới là miền Nam (Méridionale), thuộc thị tộc Dừa (Narikelavamsa), tiếng Chàm là Li u, hậu duệ người miền biển (Atâu Thik) .

Lịch sử Chiêm Thành là cả một chuỗi dài chống đỡ những cuộc xâm lăng từ Trung quốc, Kampuchea và Đại Việt. Khoảng năm 400 Lâm Ấp dựng kinh đô ở Trà Kiệu (Simhapura), xây nhiều tháp Kalan và đền đài hùng vĩ bằng gạch đỏ tại thung lũng Mỹ Sơn (Quảng Nam). Sử liệu Trung Hoa cho rằng nghệ thuật xây dựng và điêu khắc với lối kiến trúc bằng gạch đỏ của người Chàm thời bấy giờ đã xứng đáng là bậc thầy. Năm 446, tướng Tàu là Tan Hezhi (Đàn Hòa Chi) xâm lăng Champa, kinh đô Trà Kiệu bị thiêu hủy cùng với các công trình kiến trúc đồ sộ và hàng ngàn tài liệu viết về lịch sử Chiêm quốc. Từ đó không còn bóng dáng nào của lịch sử Lâm Ấp được chiếu rọi lại mãi cho tới năm 875 vào đời vua Indra Varman II (875- 898), dưới sức tấn công của người Trung quốc, dân nước Hoàn Vương phải dời đô từ Trà Kiệu về Đồng Dương (Indrapura, Quảng Nam). Cũng vào năm 875, lần đầu tiên trong biên niên sử Trung Hoa xuất hiện tên nước Chiêm Thành, viết theo tiếng phạn là Champapura, có nghĩa là "Thành của người Chàm".

Tại An Nam phủ, vào năm 939, Ngô Quyền (897- 944) giành được độc lập từ tay người Tàu, xưng vương và dựng đô ở Cổ Loa. Năm 968, Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn Nhị Thập Sứ quân, dựng nước tự chủ, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Mãi đến đời nhà Lý (1010 - 1225) mới đổi tên là Đại Việt và nhà Tống bên Tàu mới công nhận là An Nam quốc.
Trong 42 năm vào đời vua Indra Varman III (918 - 960), dân tộc Chàm liên tiếp bị sự tấn công từ mọi phía của người Java, người Khmers và người Trung quốc. Năm 982, vì vua Chiêm là Parameavara Varman I bắt giam sứ thần của Đại Việt nên Lê Đại Hành tiến quân chiếm Đồng Dương, bắt Chiêm quốc phải triều cống. Hari Varman II (988 - 998) lên ngôi, dời kinh đô về Phật Thệ (Chà Bàn).

Vào cuối thế kỷ thứ X cho đến thế kỷ thứ XIII là khoảng thời gian đen tối trong lịch sử vương quốc Chiêm Thành. Những cuộc chiến tranh triền miên với Đại Việt và Khmers đã liên tiếp xẩy ra, đưa đất nước Chiêm Thành vào cảnh tượng hoang tàn đổ nát. Năm 1069 người Việt tràn qua đèo Ngang tiến vào tiếp nhận Quảng Bình do vua Chế Củ dâng tặng. Đến năm 1306 người Việt tới Huế. Hơn ba trăm năm sau, năm 1697, cuộc Nam tiến đã kéo dài tới Ninh Thuận, Phan Thiết.
Cũng kể từ năm đó đất nước Chiêm Thành đã hoàn toàn thuộc về Đại Việt.

Lịch sử vong quốc của người Chiêm Thành được đánh dấu đầu tiên bằng hành động của vua Chế Củ dâng Đại Việt ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để cầu xin hữu nghị. Tiếp đến là một sự kiện trọng đại khác xảy ra dưới thời vua Chiêm khi Chế Mân, vào năm 1306 dâng Đại Việt hai Châu Ô Lý làm sính lễ để cưới một giai nhân nước Việt, công chúa Huyền Trân. Nàng công chúa yêu kiều ấy là sứ giả trọng yếu, mở đầu thời kỳ bang giao hữu nghị lâu đài nhất giữa hai quốc gia Đại Việt - Chiêm Thành.
Chế Mân tên chữ Phạn là Sinhavarman, vị vua Chiêm quốc vào đầu thế kỷ thứ mười bốn, đã có vợ là Hoàng Hậu Tapasi, người xứ Java, trước khi cầu hôn công chúa nước Đại Việt.
Nói về Huyền Trân, ... Vào triều Lý, Huệ Tông có bệnh mãi không khỏi, lại không có con trai, nên tháng 10 năm Giáp thân (1224) truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa (tên là Phật Kim), sau đó vào tu ở chùa Chân Giáo. Chiêu Thánh lên ngôi lúc 7 tuổi, tức là Lý Chiêu Hoàng. Được một năm, vào tháng 12 năm Ất dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh (lúc ấy mới có 8 tuổi, là cháu của Trần Thủ Độ), sau đó truyền ngôi lại cho chồng. Từ đó giang sơn nhà Lý vào tay nhà Trần. Ba đời sau truyền đến Trần Nhân Tông. Nhân Tông thành hôn với Khâm Từ hoàng hậu, có được hai hoàng tử là Thuyên và Quốc Chân, một công chúa là Huyền Trân. 

Vào đầu năm 1301, Thượng Hoàng của Đại Việt là Trần Nhân Tôn sau khi đã thoái vị, truyền ngôi cho con là Trần Anh Tôn, hiệu Hưng Long, nhân dịp có một phái bộ Chiêm Thành sang thăm nước Việt để kết tình giao hảo, Thượng Hoàng đã đi theo phái bộ đến thăm Chiêm Quốc. Ở lại chín tháng trong cung điện của vua Chiêm, ngài được Chế Mân trọng vọng, kính nể và hậu đãi. Khi cáo biệt ra về, Thượng Hoàng cảm động đã hứa gã công chúa cho Chế Mân.
Tiếng đồn về nhan sắc của Huyền Trân làm bồi hồi trái tim nhà vua trẻ Chiêm quốc, dù Chế Mân đã lập gia thất với nàng con gái xứ Java, Hoàng hậu Tapasi. Chế Bồ Đài được giao phó dẫn theo bộ hạ hơn 100 người, tiến về Thăng Long mang theo vàng bạc, châu báu, hương liệu quý, báu vật lạ cùng dâng biểu xin làm lễ cầu hôn. 
Cả triều đình Đại Việt hoang mang, hoàng thân quốc thích lên tiếng phản đối. Làm sao có thể gả nàng công chúa yêu quý nước Việt về xứ Chàm man rợ ? Nhưng Thái Thượng Hoàng đã trình bày rõ ràng ý định của mình với Trần Anh Tông. Việc gả Huyền Trân về đất Chiêm là một đường lối chính trị có tầm vóc quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đại Việt.
Cuộc hôn nhân không xuôi chèo mát mái vì triều thần Đại Việt kẻ đồng tình, người phản đối. Quan niệm và thành kiến của người Đại Việt thời bấy giờ vẫn coi thường xứ Hời Chiêm tộc. Trong thời gian năm năm liền, cả hai triều đình Chiêm Việt liên tiếp phái các sứ giả qua lại trao ý kiến nhà vua của mỗi nước để thương thuyết về cuộc hôn nhân. Đoàn Nhữ Hài, vị đặc sứ Đại Việt lúc bấy giờ do bất phục vua Chàm, Khi yết kiến Chế Mân đã đặt quốc thư trước mặt mà lạy, tỏ ý cho vua Chàm biết là ông lạy vua nước Việt chứ không phải lạy vua Chàm.

Đến tháng 6 năm Bính Ngọ 1306, niên hiệu Hưng Long thứ 14, vị vua trẻ đa tình Chiêm quốc Chế Mân dâng hai châu Ô - Lý làm sính lễ và vua Trần Anh Tôn ban chiếu chỉ quyết định gả em gái là Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Từ đó Hai Châu Ô Lý không những mãi mãi thuộc về đất Việt mà còn đi vào tình tự Việt Nam qua ca dao và văn học.
“Hai Châu Ô Lý vuông nghìn dặm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi?” (4)

Châu Ô và Châu Lý là phần đất từ Cửa Viêt kéo dài tới quận Hòa Vang thuộc tỉnh Quảng Nam. Theo sử liệu, Châu Ô tức là Châu Thuận và Châu Lý tức là Châu Hóa. Châu Thuận thuộc phần đất của tỉnh Quảng Trị kéo dài tới quận Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên. Châu Hóa là phần đất thuộc tỉnh Thừa Thiên bao gồm quận Hòa Vang Thuộc Quảng Nam.

Lịch sử Trung Hoa có ghi lại, Tây Thi, gái nước Việt, sắc nước hương trời, chim sa cá lặn, đã được đem dâng vua Phù Sai của nước Ngô để Câu Tiễn, vua nước Việt (phía Nam Trung Quốc) mưu đồ quốc sự. Nhan sắc của Tây Thi đã dẫn triều đại nhà Ngô đến chỗ cáo chung. Sử Đại Việt không nói nhiều đến nhan sắc của Huyền Trân, nhưng sử sách có ghi lại người anh của Huyền Trân là vua Anh Tông nổi tiếng là đẹp như tiên. Các sứ thần Trung Quốc thời đó cứ muốn được yết kiến để chiêm ngưỡng sắc đẹp “thần tiên” của vị vua này. Các nhà viết sử đã góp nhặt các sự kiện mà cho rằng hẳn nhiên Huyền Trân là một công chúa diễm kiều tuyệt mỹ, nhan sắc lẫy lừng, tiếng tăm đồn đại vang dội bốn phương khiến trong dân dã đã ví nàng:
“Tiếc thay cây quế Châu Thường
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”
khiến Chế Mân đã biến cuộc hôn nhân ấy thành quốc sự, đã dày công theo đuổi trong năm năm trời, đã dâng một phần lãnh thổ của Chiêm quốc để cưới bằng được một gái “Tây Thi” Đại Việt. Sau hôn lễ, khi về đến Chiêm Thành, nàng công chúa Đại Việt đã được phong làm Hoàng Hậu Paramecvari của Chiêm quốc.

Phận gái mười hai bến nước. mà thuyền tình của Công Chúa Huyền Trân đã cặp bến vinh hoa. Thói thường, các cô dâu khi về nhà chồng dù tâm trạng thế nào đôi mắt cũng rưng rưng nhỏ lệ. Nàng Huyền Trân dù trước mắt là cuộc đăng quang tuyệt đỉnh huy hoàng, nhưng làm sao người công chúa thoát ra khỏi cái tình cảm thường tình; nhớ thương, bịn rịn, lo lắng, bâng khuâng. Do đó người đời đã truyền tụng hai câu ca dao nói lên tâm sự Huyền Trân khi qua đèo Hải Vân:
“Chiều chiều gió thổi Hải Vân
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn.”

Thế là nàng công chúa nhà Trần đã về làm dâu Chiêm quốc, đã trở thành Hoàng Hậu. Thì lúc đó, trong nước Đại Việt, giới văn nhân thi sĩ xầm xì, chế giễu. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã ví cuộc hôn nhân này tương tự như việc nhà Tiền Hán Trung Hoa 33 năm trước Tây lịch đã đem Chiêu Quân cống Hồ để mưu cầu hòa bình cho trăm họ. Ông cho rằng vua Anh Tôn vì để giữ lời hứa Thượng Hoàng mà gả Huyền Trân, chứ cuộc hôn nhân không tương xứng.
Trong dân gian người ta truyền tụng những câu hát ví von để mỉa mai như:
Tiếc thay cây quế Châu Thường
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.”
Hoặc:
“Con vua lấy thằng bán than
Nó đưa lên ngàn cũng phải đi theo.”

Nhưng thương thay! Cuộc hương lửa vừa nồng thì chỉ một năm sau, vào mùa Hạ, tháng 5 năm 1307 Chế Mân Băng hà. Huyền Trân giờ là một góa phụ lẻ loi trong cung điện thành Đồ Bàn nhìn về cố quốc mà thấy lẽ sắc sắc không không mầu nhiệm.
Dư âm của cuộc tình vương giả ấy đã phảng phất đến muôn đời tưởng như là huyền thoại.
Ngày Chế Mân băng hà, theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng Hậu phải lên giàn hỏa táng để chết theo chồng. Vua Trần Anh Tôn đã cử vị quan Nhập Nội Hành Khiển Thượng Thư Tả Bộc Sạ là Trần Khắc Chung sang Chiêm quốc để điếu tang với mưu sự cứu công chúa thoát nạn. Các cung nữ của Huyền Trân trong cung điện Đồ Bàn khi thấy Trần Khắc Chung đã hát lên:
“Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa lên thang mà ngồi.”

Trần Khắc Chung bày kế giải cứu được công chúa khỏi phải lên giàn hỏa táng, đem công chúa về nước bằng đường biển. Cuộc hải hành đó đã kéo dài đến một năm. Trong một năm ấy, Khắc Chung đã tư thông với công chúa (?) Dư luận trong dân gian xầm xì:
Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Đã vò nước đục lại vần lửa rơm”
Cuối cùng Huyền Trân đã được trả về cho nước Việt và hai Châu ô Lý cũng vĩnh viễn là lãnh thổ Việt Nam. Từ đó lại có hai câu cao dao:
“Của trời, trời lại lấy đi
Giương hai con mắt làm chi được trời.”

Lại nói về cuộc tình lãng mạn giữa nàng công chúa với vị tướng trẻ Trần Khắc Chung, có giai thoại nói rằng Huyền Trân càng lớn, nhan sắc thêm đậm đà. Tiếng cười nói hay giọng ngâm thơ đọc sách như giọng oanh vàng của nàng vẫn vang lên đây đó ở vườn Ngự Uyển trong Tử Cấm thành. Một hôm, Khâm Từ hoàng hậu cho phép Huyền Trân được cùng bà đi dâng hương lễ Phật nơi chùa Trấn Quốc. Đoàn xa giá rời hoàng cung trong tiếng lễ nhạc. Lần đầu tiên được rời Cấm thành, công chúa Huyền Trân say sưa chìm đắm trong sắc nước hương trời, nàng không để ý đến cái nhìn sâu kín thầm lặng, đầy vẻ say đắm đam mê của vị tướng trẻ tuổi Trần Khắc Chung. Giai thoại không nói về những cuộc gặp gỡ hẹn hò nào giữa đôi trai tài gái sắc ấy, mà chỉ nghe khi triều đình quyết định gả Huyền Trân cho vua Chiêm, “Huyền Trân công chúa thấy cõi lòng tan nát. Riêng về Trần Khắc Chung nghe tin như sét đánh ngang tai”??. 

Cuộc hôn nhân vương giả ấy tựa như bông hoa sớm nở tối tàn, nàng công chúa Huyền Trân của Đại Việt, một năm sau khi về đất Chàm, Chế Mân khi vừa dựng xong tháp Po Kloong Girai tại Phan Rang thì vào mùa hạ, tháng 5 năm 1307 đã “từ trần trong một khung cảnh vô cùng mờ ám”, và “chưa ai hiểu được nguyên nhân nào để giải thích cho sự  hiện diện của Trần Khắc Chung trong bối cảnh lịch sử này. Cũng chưa có nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy trốn của công chúa Huyền Trân khỏi kinh đô Chiêm Thành vì theo truyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được phép hủy thân trên giàn hỏa với chồng của mình mà thôi...” (Champaka. tr.18-19).  

Nhưng theo Khâm Định Việt Sử thì vào tháng 9, thế tử là Chế Đa Đa sai bầy tôi là Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng để cáo việc tang. Theo tục lệ Chiêm quốc, vua mất thì các cung phi phải lên hỏa đàn để tuẫn táng. Trần Anh Tông sai quan Nhập nội Hành khiển Thượng thư Tả bộc xạ Trần Khắc Chung cùng An phủ sứ Đặng Vân đi điếu tang. Khi thấy Trần Khắc Chung tới, các cung nữ của Huyền Trân hát lên hai câu ca dao như đã dẫn.

Câu hát ngụ ý công chúa sẽ phải lên hỏa đàn. Trần Khắc Chung nói với thế tử Chiêm Thành rằng: "Sở dĩ bản triều gả công chúa cho quốc vương vì hai đất nước liền nhau, nên muốn được yên phận để cùng hưởng thái bình hạnh phúc, cũng vì thương dân, chứ không phải mượn má phấn để giữ trường thành. Nay Quốc vương từ trần, nếu đem công chúa tuẫn táng ngay thì việc tu trai không người lo liệu. Theo tục lệ bản quốc, trước hết hãy đưa công chúa ra bãi bể chiêu đón linh hồn, rồi mới vào hỏa đàn sau".
Người Chiêm Thành nghe theo lời. Khi thuyền công chúa ra giữa biển, Trần Khắc Chung đem thuyền chạy theo cướp Huyền Trân. Theo Khâm định Việt sử, Trần Khắc Chung cùng Huyền Trân tư thông quanh quất trên biển hơn một năm mới về đến kinh. Sư Hưng Nhượng Vương Quốc Tăng rất ghét chuyện ấy, nên hễ trông thấy Khắc Chung thì mắng: "Họ tên người này không tốt, có lẽ nhà Trần mất vì hắn chăng !" Bởi vậy Khắc Chung khi trông thấy Quốc Tăng thì tránh mặt. Huyền Trân công chúa về đến Thăng Long vào ngày 18, mùa thu năm Mậu Thân 1308, hiệu Hưng Long thứ 16, từ đấy sống trọn đời trong hiu quạnh bẽ bàng. Có sách viết nàng đã vào chùa nương thân nơi cửa Phật.

Lại theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, khi Chế Mân dâng lễ cầu hôn thì "... triều thần nước ta đều nói là không nên, duy một mình Văn Túc Vương Đạo Tái chủ trương việc gả cưới ấy. Chủ trương đó được Trần Khắc Chung tán thành". Nếu quả vậy, mối tình lãng mạn giữa nàng công chúa và TKC, vị tướng quân nước Đại Việt phải chăng chỉ là một huyền thoại dệt gấm thêu hoa?

Đến nay xấp xỉ bảy trăm năm, một trang sử bang giao quốc tế đã mờ dần theo bóng thời gian. Đất nước Chiêm Thành chỉ còn để lại sau lưng mình một số di tích lịch sử với hai cộng đồng nhân chủng xuất thân từ dân tộc Champa thời trước. Cộng đồng đầu tiên gồm vào khoảng 300 ngàn người dân tộc thiểu số vùng Tây nguyên miền Trung và khoảng 100 ngàn người Chăm ở vùng Phan Rang Phan Rí, với 30 ngàn ở khu vực Châu Đốc và Tây Ninh, hơn 150 ngàn lánh nạn ở Kampuchea. (* Champaka sđd. tr. 33). Hiện nay ở hải ngoại, sau năm 1975 cũng đã hình thành một cộng đồng người Champa có tổ chức các cơ cấu văn hóa, xã hội tại Pháp và Hoa Kỳ.
Nơi đất nước và quê hương cũ, nền văn minh và văn hóa huy hoàng của dân tộc Chàm ngày nay chỉ còn là một bóng hình dĩ vãng mờ nhạt, mong manh. Những ngọn tháp Chàm rải rác đâu đó từ Quảng Nam vào tới Phan Rang, Phan Thiết, trong nhiều thế kỷ đã là nơi để những lớp thế hệ người Chàm thưa thớt tìm về hội tụ, bái vọng tổ tiên của họ. Nền văn minh cổ kính ấy đã nói lên một trình độ vật chất và tinh thần tiên tiến của một dân tộc mà định mệnh không cho họ được trường tồn.

Về phía nước Đại Việt, vâng lệnh Thượng Hoàng, vua Anh Tông đã bất chấp mọi lời dè bỉu gièm pha trong thiên hạ, dùng người em gái của mình như một mỹ nhân kế vào một nghị trình quốc sự, thu về cho Tổ Quốc một lãnh thổ trải hàng nghìn dặm, khởi đầu bằng sự tự giác, thuận tình của Chế Mân dâng vua Đại Việt hai Châu Ô Lý.
Có ai biết được tâm sự của người công nương đài các ấy. Nàng đã ra đi và nàng đã trở về tưởng chừng như trong im lặng, để lại hàng trăm năm sau những tình cảm bịn rịn, tưởng nhớ, biết ơn của hàng bao thế hệ con người Việt Nam.

Ngoài số lượng văn chương bình dân, nhiều văn thân thi sĩ đã chạnh lòng xúc cảm về cuộc tình lâm ly bất hủ ấy để dệt thành những khúc nhạc, bài thơ, lưu lại với thời gian.
 Người viết trong khi đọc sưu khảo mấy chồng tư liệu, cả một quá khứ xa xăm hiện về, tâm hồn như chìm vào dĩ vãng xôn xao của tổ tiên thời kỳ dựng nước. Nghĩ về non nước Chiêm Thành, nghĩ về cuộc tình vương giả ấy, lòng không khỏi trắc ẩn, ngậm ngùi mà xuất ý mấy vần sau đây. Xin được mượn bài thơ như một dấu chấm hết.

LỜI CẦU HÔN CỦA CHẾ

Nàng hỡi Huyền Trân Đại Việt ơi
Nước non Chiêm quốc đợi mong người
Mỹ nhân dẫu phải là khuynh quốc
Trẫm của Chiêm và trẫm của ngươi

Chiêm Việt đôi bờ bao dặm ấy
Tiền duyên hò hẹn mấy nghìn sau
Đồ Bàn cung điện ngôi Vương Hậu
Để có khanh và để có nhau

Ô Lý hai châu về xứ ngoại
Bao đời xử sở một quân vương
Là đây tình sử trong thiên hạ
Rồi mấy nghìn sau hậu thế lường?

Rồi mấy nghìn sau đời kể lại
Cơ đồ Chiêm Quốc một Công Nương
Một trang sử viết thời Chiêm-Việt
Một cõi sơn hà cũng khói sương

Tiếng trống Đồ Bàn khai yến tiệc
Cung nghinh gái Việt mở Hoàng thành
Xin mời Công Chúa về cung điện
Chế của Chiêm và Chế của khanh... 

Song Nhị
Hiệu chính tháng 3/2012

----------------------
Tài liệu tham khảo:
(1) Tập San “Nghiên Cứu Lịch Sử Và Nền Văn Minh Champa”: Champaka No. 1-1999 IOC – Campa San Jose, California, USA 1999
(2) “Đất Việt Trời Nam”, Thái Văn Kiểm Nguồn Sống - Sài Gòn 1960.
(3) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
(3) PhuSa.net
(4) Theo Ngô Kim Khôi, hai câu này trích trong bài thơ sau đây của Trần Cao Khải, nhưng theo Học giả Thái Văn Kiểm trong Đất Việt Trời Nam” {Nguồn Sống xb, Sài Gòn 1960] thì bài thơ này là của nhà thơ Thái Xuyên viết vào khoảng thập niên 20):
Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười
Vốn đà không mất lại thêm lời
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi
Lòng đỏ khá khen lo việc nước
Môi son phải giống mãi trên đời
Châu đi rồi lại châu về đó
Ngơ ngẩn nhìn nhau mấy đứa Hời./


Thursday, March 8, 2012

Dấu Lặng Trong Bản Hùng Ca! - Nguyệt Quỳnh

 Ai vẽ nỗi cô đơn đầy lòng chỉ bàn tay
Trên cánh đồng cuộc đời thân con cò con vạc
         (À ơi cánh cò – Hương Giang)

Chẳng biết tại sao và tự bao giờ người ta ví người phụ nữ qua hình ảnh một con cò. Con cò mình hạc sương mai, con cò khẳng khiu gánh gồng mọi nỗi oan khiên của cuộc đời. “Con cò lặn lội bờ sông gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” và “Cái cò đi đón cơn mưa / tối tăm mù mịt ai đưa cò về”. Con cò dường như luôn luôn một mình, cò gắn liền với nỗi cô đơn. Và phải chăng vì thế mà con cò lại vẽ rất đủ nét về người phụ nữ Việt. Sống trong một đất nước chiến tranh, tôi tin rằng rất nhiều người trong chúng ta đều mang trong ký ức tuổi thơ mình hình ảnh một người mẹ đơn độc. Cái hình ảnh tôi nhớ nhất về mẹ tôi là hình ảnh bà một mình, một mình tảo tần nuôi con, đơn độc cùng nén nhang cháy khuya cùng ngọn đèn dầu lạc.

Nếu ngay từ thế kỷ thứ 19 thế giới đã chọn ngày 8 tháng 3 để vinh danh người phụ nữ. Nếu “Bánh mì và Hoa hồng” đã được trao tặng cho các phụ nữ của nhiều quốc gia khác, thì cho đến tận ngày hôm nay bản thân người phụ nữ Việt Nam đang tiếp tục bị bạc đãi và xúc phạm. Các bé gái và hàng ngàn phụ nữ tiếp tục bị bán đi ngoại quốc để làm lao động hay làm nô lệ tình dục đến nỗi chính phủ Hoa Kỳ đã phải cảnh báo về tệ nạn buôn người tại Việt Nam. Nếu “Bánh mì và Hoa hồng” bài thơ của thi sĩ James Oppenheim, được hát đi hát lại bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trong ngày Quốc Tế Phụ Nữ thì cũng xin được hát lên hôm nay cho thân phận những bé gái, những phụ nữ VN đang lạc loài trên xứ người:

Cuộc sống sẽ chẳng còn nhọc nhằn
từ lúc sinh thành cho đến ngày nhắm mắt
Trái tim đói cũng như thân xác đói,
hãy cho chúng tôi ăn và cho những hoa hồng
       (Bánh mì và Hoa hồng – James Oppenheim)

Thi ca và âm nhạc gọi người phụ nữ của chúng ta là cô Tấm. Người đàn bà bước ra từ quả thị lặng lẽ nấu cơm, dọn dẹp, lặng lẽ chăm sóc cho chồng rồi biến vào quả thị. Những cái bóng phía sau người đàn ông luôn đằm thắm, dịu dàng, nhưng họ cũng chính là những dấu lặng trong bài trường ca của quê hương tôi. Bài trường ca chất chứa những đoạn đường dâu bể của dân tộc. Phía sau tình yêu tha thiết dành cho chồng con là cả một tấm lòng sắt son đối với đất nước. Sự can trường của họ, sự hy sinh trong im lặng như một nét khắc sâu vào lịch sử. Nó nằm ở tình yêu và niềm cảm thông lạ thường dành cho chồng nơi bà quả phụ Lê Văn Hưng. Nó là tình yêu mãnh liệt của người thiếu phụ đã gom góp chút gia sản ít ỏi làm lộ phí đưa chồng về chiến khu của phu nhân Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh. Nó nằm ở câu nói của cụ bà Phan Bội Châu khi giáp mặt chồng trên đường cụ Ông bị giải từ Hà Nội vào Huế. Bà bảo: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần giáp mặt Thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây trở về sau, chỉ trông mong Thầy giữ được lòng Thầy như xưa. Thầy làm những việc gì mặc Thầy, Thầy không phiền nghĩ tới vợ con.”

Một người phụ nữ trước cảnh chồng bị giải đi đày mà còn thốt lên những lời sắt đá như vậy đủ thấy tấm lòng của bà dành cho đất nước thắm thiết đến dường nào! Những tình cảm dâng hiến thầm lặng chỉ có trời biết, đất biết, ai bảo rằng người phụ nữ Việt Nam không mạnh. Họ chính là câu trả lời đầu tiên cho bất cứ ai muốn tìm hiểu vì sao một đất nước nhỏ bé vẫn đứng vững suốt mấy ngàn năm bên cạnh một cường quốc hung hãn.

Đau xót thay, người phụ nữ với những phẩm hạnh hiếm có đã không được quí trọng và bảo vệ!? Cách đây không lâu, một thiên phóng sự của đài truyền hình NBC đã làm thế giới bàng hoàng về hiện trạng những bé gái Việt Nam ở độ tuổi lên năm lên tám trong các động mãi dâm ở Cam Bốt. Sau hơn ba mươi năm xây dựng đất nước, rất nhiều thiếu nữ ở những vùng quê, vì nghèo đã phải bán thân để nuôi gia đình. Lớp khác, số phận của họ được đọc trên những bản tin “126 cô gái VN bị rao bán như hàng hoá ở Malaysia”, “70 cô gái chen chân dự tuyển lấy chồng Hàn Quốc”. Nhìn tấm hình chụp các thiếu nữ ghi danh dự tuyển lấy chồng Hàn thật đáng thương. Trước ống kính, nhiều em đã quay mặt đi, có em lấy tay hoặc lấy khăn che mặt. Vậy mà chỉ một lát nữa thôi, chính các em phải phải cởi bỏ quần áo, để một hoặc hai gã đàn ông ngoại quốc xem xét dị tật, sẹo cũng như khả năng sinh nở trước khi đưa ra quyết định tuyển chọn cuối cùng!

Hỏi rằng có ai không phẫn nộ với những phát biểu vô tội vạ của bà tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hoa, phó trưởng Ban Tuyên giáo thuộc Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Trước Hội nghị tập huấn về công tác phòng chống tệ nạn mại dâm diễn ra ở Hà Nội, bà Hoa đã lên án những phụ nữ hành nghề mại dâm và kết luận một cách cay nghiệt: “Gái bán dâm sẽ không biết xấu hổ khi cần tiền”. Ngày xưa tệ nạn mại dâm được quy trách cho tàn dư Mỹ Ngụy. Nay, những vấn nạn của người phụ nữ sẽ quy trách cho ai? Chiến tranh đã thuộc về quá khứ, nhưng chính người mẹ ngày xưa mất chồng, mất con trong chiến tranh lại trở thành mẹ dân oan dầm mưa dãi nắng hàng chục năm trời đi đòi đất đòi nhà. Những thiếu phụ ngư dân ôm nỗi oan khuất của mình khi chồng chết mà không có xác chôn! Chưa kể đến những tệ nạn xã hội khác như nạn bạo hành trong gia đình. Tại Bắc Giang một người chồng đã đánh đập vợ, lột quần áo, và nhốt vợ mình vào cũi chó …

Chúng ta thấy rõ người phụ nữ ngày nay không trông mong được gì vào các cơ cấu của xã hội. Cứ nhìn những bạo hành được dung túng qua thái độ của công an khi hành hạ vợ anh Vươn, thúc vào bụng chị dù được nói rằng chị đang mang thai; hoặc ra tay giựt xập căn lều dựng tạm của mẹ con chị khi anh Vươn đang ngồi tù. Thêm vào đó, sự hy sinh của người phụ nữ lại bị lợi dụng trắng trợn khi các quan chức nắm quyền tìm cách kiếm tiền qua công trình dựng tượng đài mẹ liệt sĩ ở Quảng Nam!

Ngày nay, phụ nữ các quốc gia tây phương sẽ chưa được quyền đi bầu, nếu năm 1857 các nữ công nhân ngành dệt thuộc thành phố New York không đấu tranh cho chính bản thân của họ. Ngày Quốc Tế Phụ Nữ là điểm khởi đầu cho các quyền bình đẳng của phụ nữ sau này. Nếu chính chúng ta hôm nay không trực tiếp góp tay xoay chuyển thời cuộc, dưới chế độ này thân phận người phụ nữ VN sẽ tiếp tục như thế trong vài thập niên nữa. Chúng ta sẽ không có một nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh trong một đất nước như vậy.

Bạn có nhìn thấy những nỗ lực cho một đổi thay tốt đẹp hơn cho xã hội của những người đang sống quanh bạn? Bạn có nhìn thấy những hy sinh của Lê thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Trần thị Thuý… Bạn nghĩ gì trước cảnh chị Bùi Minh Hằng bật khóc trước phòng thăm của trại giam. Bạn đã làm gì khi Đỗ Thị Minh Hạnh bị giam chung với những bịnh nhân “liệt kháng” (HIV) vào thời kỳ cuối? Người thiếu nữ ấy đã nói với mẹ rằng: “nếu lỡ con có lây bịnh xin mẹ đừng ghét hay ghê sợ con”. Quả thật câu nói của Washington Irving phải dành riêng cho người phụ nữ Việt: “Cả cuộc đời của người phụ nữ là một bài lịch sử về những yêu thương”.
Yêu thương, hy sinh, thầm lặng, dịu dàng, can trường, thủy chung... là những tiếng ngân tuyệt diệu giữa hai nốt nhạc của bản trường ca. Gạch bỏ những khoảng trống đó, chắc chắn ta sẽ có một bản nhạc “câm”. Xin đừng để những phụ nữ ấy phải hy sinh trong vô vọng. Xin đừng để họ cô đơn ...  Hãy Lên Tiếng. Hãy hành động cùng họ.

Nhân ngày Quốc Tế Phụ Nữ, một lần nữa chúng ta khẳng định rằng: “Người phụ nữ Việt Nam luôn có mặt và là một phần sức mạnh quyết định sự sống còn của dân tộc tại mọi khúc quanh của lịch sử.”

Nguyệt Quỳnh

Tuesday, March 6, 2012

Một Mình Ngồi Đọc Thơ Mình – Thơ Song Nhị (1)




















Về LốI ĐI XƯA
 




Về Lối Đi Xưa - về lại trên hành lang dĩ vãng những dấu tích thời gian chập chờn kỉ niệm - những chặng đường, những nơi xưa chốn cũ – để từ đó tâm hồn lãng tử chuyển hóa vào không gian thinh lặng những trăn trở, băn khoăn, hoài niệm… Quê hương và cuộc tình đầu.

Xin trích đọc mấy bài trong thi phẩm Về Lối Đi Xưa:

Về Lối Đi Xưa

Trời đã vào đông trở mùa lành lạnh
em đã về chưa trên lối trăng đầy
ta vẫn thèm nhìn áo tóc mây bay
ngắm lũ trẻ tung tăng sau chiều tan học

Em đã về chưa lối đầy sao mọc
ta xin trao em nốt nửa phần đời
những lúc buồn lòng vẫn gượng cười vui
nói thật khẽ sợ chính mình nghe được
không dám nghĩ tới những điều ao ước
e nỗi băn khoăn làm rối tâm hồn
cuộc sống dẫy đầy toan tính thiệt hơn
trái đất vẫn xoay vần theo thế sự

Cứ mỗi đêm nằm vỗ về giấc ngủ
ta lại miên man nghĩ ngợi trăm điều
nghĩ một đời người chăm chút thương yêu
ngày hai buổi đi về qua một ngõ
ta nằm mộng dưới vầng trăng sáng tỏ
và thâu đêm đốt nến viết thơ tình
cả tinh cầu còn sót lại mình em
(khi yêu mến không tiếc lời nói quá)
ta kiếm tìm em giữa hành tinh lạ
bỏ trống sau lưng một quãng đời dài
ta nhởn nhơ làm cánh bướm rong chơi
từ độ mùa hoa mùa trăng mười sáu
em đến bên ta mỉm cười hiền hậu
ôi, những nụ cười in dấu nghìn năm

Từ buổi loài chim tan tác bỏ rừng
ta chán mộng đời khoanh tay gục ngủ
ta sợ mỗi ngày đi về hai bữa
trên lối đi xưa đau buốt dấu giày
em xõa tóc sầu vướng lá me bay
dòng nước vẫn trôi im lìm về biển
Em đã về chưa lối đầy kỷ niệm
có những hương hoa có những nụ cười
có đôi mắt buồn lấp lánh sương mai
có những hàng cây suốt đời quấn quít
thành đá rêu phong mang đầy chứng tích
một nửa khung trời én liệng nghiêng nghiêng
tiếng gió reo vui trên ngọn cỏ mềm
kỷ niệm bốn mùa luân lưu ở đó
ta đứng từ xa trông về bỡ ngỡ
thơ viết một đời không đủ nguồn cơn
Những nẻo đường xưa lá đổ thật buồn
dĩ vãng xôn xao sáng chiều sớm tối
em đi qua xin chớ dừng bước vội
hãy nhặt cho ta những kỷ niệm đầu
giữ lấy một đời ước vọng cho nhau.

*

BÀI ĐẦU THÁNG GIÊNG

Ta đã viết một bài thơ dạo trước
khi nắng vàng vừa trở sắc sang xuân
em có biết cho lòng ta quá đỗi
và thơ ta không đủ để phân trần

Ta muốn viết trang thơ tình diễm tuyệt
mơ những điều rất vơ vẩn hồn nhiên
vẽ hình em thật đầy trong trí nhớ
như buổi đầu xa lạ đến làm quen

Như buổi đầu mùa xuân hồn cỏ biếc
và mùa thu mây khói tỏa xây thành
cả mùa đông sương mù bay rất mỏng
đủ để nhìn ảo ảnh lướt qua nhanh 

Ngày xưa cũ với trăm nghìn xao xuyến
mấy lo toan ước mộng đã vuông tròn?
thời thơ dại qua lúc nào không biết
ngẩng mặt nhìn vầng nguyệt xế đầu non

Niềm hy vọng mỗi ngày thêm hun hút
từng khoảng đời cũng lũ lượt ra đi
lòng vẫn hẹn phút mừng vui hạnh ngộ
cửa tin yêu mở rộng lối đi về

Ta sẽ nén vết hằn đau bỡ ngỡ
quên hết nhục nhằn phiền muộn đa đoan
sẽ làm lại. sẽ bắt đầu cuộc sống
em góp nụ cười chung nỗi hân hoan.

*

MAI SỚM MÙA XUÂN

Chiều cuối năm trời thanh và gió bấc
cây bên đường xào xạc lá vàng bay                                                       
đường về nhà em con dốc đổ thật dài
anh vẫn hẹn mai về qua lối đó

Anh sẽ tới như lần đầu dạm ngõ
viết thơ tình ca ngợi những mùa xuân
em mãi thiên thu vẫn đẹp tuyệt trần
anh vẫn mãi ngất ngày cùng mộng ước

Anh sẽ tới, sẽ ngập ngừng mỗi bước
sẽ bâng khuâng xao xuyến cả hàng giờ
đứng bên thềm như đứa trẻ ngu ngơ
chân cuống quýt tay e dè gõ cửa

Nhánh mai vàng nở đầu năm rạng rỡ
Anh nghe thầm lời thỏ thẻ hồn nhiên
Lòng bâng khuâng như sợi khói rất mềm
Chân không bước mà tưởng mình lạc lối

Anh lặng lẽ để nghe lòng khẽ nói
Sẽ mỉm cười và sẽ rất vu vơ
Em ngồi bên tóc xõa thật tình cờ
Mắt bẽn lẽn qua những lần liếc trộm

Ở cuối sân một bông hồng nở sớm
Và nụ cười em giấu cả nghìn thu
Anh trầm luân trong biển nhớ xa mù
Và mường tượng có em về cứu rỗi

Mỗi sợi tóc bay một đường chỉ rối
Quấn đời anh vào tận chốn thâm cùng
Sáng mai này, em nhỉ có mùa xuân
Anh ngờ ngợ thấy hồn vơi quá nửa./

*

NGÀY ĐÓN EM VỀ

Mai anh trải chiếu hồng trên lối lạ
để em về êm ái gót chân nhung
em sẽ có thơ tình làm chăn nệm
ngủ giấc ngoan hiền chim én mùa đông

Ngày đón em buổi chiều  qua rất nhẹ.
sớm mai hồng tươi mát ánh bình minh
cơn gió sớm thổi bay tà áo lụa.
ngày trần gian diễm tuyệt của đôi mình.

Em sẽ có những niềm vui trẻ dại
của những ngày thơ ấu đẹp xa xôi
đôi tay nhỏ em xây lầu hạnh phúc
mỉm cười nhìn thằng bé ngủ trong nôi

Anh sẽ lãng quên chuyện đời mưa bão
mình kể nhau nghe những chuyện vui buồn
Cuộc sống rộn ràng như ngày anh đón
tiếng trẻ đầy nhà và những nụ hôn

*

BÀI THƠ VIẾT
TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG VẠN HẠNH

Tôi trở về thăm lại trường xưa
Khuôn viên cũ đã thay lề đổi thói
Câu Duy Tuệ (*) xoáy lòng người nhức nhối
Từng nỗi buồn thấm lạnh từng cơn

Tôi trở về văng vẳng nỉ non
Ngọn tháp rưng rưng giữa chiều cuối hạ
Rên rỉ oán hờn
Quằn quại hồn Chiêm quốc

Mười năm núi lở đá mòn
Mười năm hồn người nhập viên đá cuội
Chìm lặng giữa dòng sông
Từng đợt sóng ngược dòng cuồn cuộn
Kéo tan hoang một cõi cơ đồ

Tôi trở về thăm lại trường xưa
Trong thác nguồn của thời Vọng Nghiệp
Cuốn đời theo thiên tai
Ngỡ ngàng hư thực
Mở cửa chân như : Lệ thấm Phật đài!

Tôi trở về thăm lại người xưa
Người xưa xuống núi
Tôi lục lọi từ hư vô
Tìm sắc hoàng y một thời rạng rỡ
Người năm xưa tán lạc mơ hồ
Ôm kinh điển trá hình vào cõi tục
Đám sinh đồ nhìn theo lơ ngơ
Gẫm từng trang Thị Nghiệp (*)

Tôi trở về thăm lại trường xưa
Cổ tháp rêu phong giữa đời gió bụi
Bầy chim nhỏ ẩn mình sau mái ngói
Kinh sách cuộn mình phủ bụi nằm mơ

Tôi trở về thăm lại trường xưa
Hồn mê mải góc giảng đường thư viện
Một thuở lòng say mê 
Một thuở đời rộn rã ...

Mười năm tơi tả tôi về
Chập chờn ác mộng
Thiện ác chân giả lập lờ
Một cõi trần ai nhốn nháo
Bặt tiếng kinh cầu
Trời đất hoang sơ./
           
Sài Gòn 1985
(*) Duy Tuệ Thị Nhgiệp là châm ngôn
trên huy hiệu Đại Học Vạn Hạnh

*

VÙNG SAU LƯNG

Tôi bỏ lại những ngày vui ở đó
Quay lưng rời vùng dự tính tương lai
Ngó tình yêu bâng khuâng lời giã biệt
Nghe âm thanh rộn rã khúc u hoài

Tôi bỏ đó những tháng ngày tươi đẹp
Kỷ niệm mờ theo ngọn gió thu phai
Khi sách vở im lìm sau cửa kính
Bao mộng đời bay ngút khỏi tầm tay

Tôi bỏ đó nắng sân trường một nửa
Màu áo học trò trắng mãi không thôi   
Lớp học rộn ràng chim ca mỗi sáng
Những cặp môi ngoan dễ khóc dễ cười

Tôi bỏ đó bản tình ca diễm tuyệt
Đêm phố phường thần thoại cháy trên môi
Gót chân em ngõ về quên lối hẹn
Con đường vào hạnh phúc bỗng xa xôi

Tôi bỏ đó đêm hoàng cung tóc xõa
Từng phút giờ từng nỗi nhớ miên man
Bao ký ức cuốn xô về dĩ vãng
Quay lưng đi lòng chợt thấy cơ hàn

Tôi bỏ đó những ghế bàn đại học
Kiến thức gom về không lấp đủ bàn tay
Lòng chân thực trước ý đồ mưu lược
Để ngỡ ngàng trước toan tính bủa vây

Khi con tàu rời ga chiều phố thị
Mỗi phút giờ mỗi khoảng cách dài thêm
Sau lưng tôi một phần đời bỏ phế
Mỗi bước đi mỗi khoảng trống ưu phiền.

ngày tôi vào cuộc chiến
một chín sáu chín

*

TÌNH CA NHẬP CUỘC

Xin từng đốt ngón tay mỏi mòn lời hứa hẹn
xin ngày tháng dài ao ước đơn sơ
xin một lần gõ cửa gọi tên người còn đáp lại
xin cho quay về nhận diện ấu thơ

Vì mỗi đêm còn mùa hè lửa đốt
vì ngày mai mùa đông thiếu áo che thân
khi ấn tượng quê hương vết hằn chiến tích
khi hỏa châu soi mảnh đất khô cằn
khi ở phương này quê hương có thực
phận số an bài nối tiếp hy sinh
ý thức bảo tồn nhường ngôi tự chủ
bốn nghìn năm vốn liếng
những cuộc nhục vinh
điệp khúc da vàng trường ca nhẫn nhục

Xin bồng súng chào mừng đồng loại
nhận huấn lệnh đi vào cuộc đời
sự khởi đầu bằng vết hằn ký ức
và gió mưa luân vũ quay cuồng
những đứa bạn nằm yên dỗ giấc
cũng thôi
hạnh phúc vẹn toàn

Xin tiếng nói đây em
một lần từ biệt
xin tiễn đưa bằng nỗi nhớ xa xôi
xin con tàu vào viễn lộ hoàng hôn
sương mù biển lặng
gom hết yêu thương đốt lửa giữa trời

Xin bài kinh cầu trổi thành nhạc khúc
một phút an ủi vỗ về
một phút bình yên trên vùng ảo tưởng
ôm tròn hoài niệm quay đi
sự có mặt của những ngày dẫy đầy triệu chứng.
                                                           
KBC 4100
một chín sáu chín

*

PHÚT TĨNH LẶNG KHI RA TÙ

Ngỡ ngàng
từ một tai ương
buông tay giữa cuộc
luân thường đổi thay

Rượu nào
ngang chén lệ cay
xin đây tĩnh lặng
một ngày trận vong

Xin em
lời tạ
tấc lòng
biết làm sao
trọn nghĩa
vòng tử sinh

Xin đây
non nước
nghĩa tình
một người con mẹ
những nghìn câu thơ

*

VỀ ĐÂY

Về đây đời bỗng ngu ngơ lạ
Quanh quất như chừng lạc lối xưa
Phố mất tên. Đường. Nhà đổi chủ
Người nhìn nhau thoáng mắt thờ ơ

Về đây. Về lại từ luân lạc
Chưa trả dứt xong nợ quỷ thần
Cảnh cũ người xưa chừ tản mác
Thấy người mà buốt cả tâm thân

Về đây còn lại gì đây nữa
Em gái ta ơi mấy bến sông
Kỷ niệm ắp đầy căn gác vắng
Ai ngờ phận gái cũng lưu vong

Tan tác hết rồi bè bạn cũ
Kẻ nơi góc biển kẻ chân trời
Bao nhiêu hò hẹn thời trai trẻ
Ngó lại như dòng nước chảy xuôi

Về đây bó gối nhìn thiên hạ
Lây lất bên lề chuyện áo cơm
Xã hội luông tuồng trong bệnh hoạn
Con người con thú có gì hơn

Về đây giở lại từng trang sách
Nhòe nhoẹt từng trang chữ thánh hiền
Lễ nghĩa thay bằng câu dối trá
Bịp lừa ngu dốt đứng ưu tiên

Về đây nương náu bên cha mẹ
Quên những gian truân những dãi dầu
Cơ nghiệp mẹ buồn chi: Được. Mất
Lo gì con mẹ sẽ về đâu

Về đây . Con đã về bên mẹ
Về lại sau từ những chuyến đi
Còn những chuyến đi nào đợi sẵn
Suốt đời cứ soãi cánh chim di

Thì thôi lòng hãy quên đi vậy
Đi. Ở. Về. Đi. Cũng số phần
Xứ xở như ngôi nhà của mẹ
Vui buồn vinh nhục chốn dung thân

Mai kia nếu phải ra đi nữa
Nếu phải đầu thai một cõi nào
Xin mãi làm người con nước Việt
Dẫu lòng còn đó nỗi buồn đau

1985

*

BA MƯƠI HAI NĂM VỀ LẠI QUÊ NHÀ (*)

Tôi về Hà Tĩnh chiều nao
dưới chân Hồng Lĩnh máu đào chưa khô
quê người tôi nhớ Nguyễn Du
quê tôi – tôi đứng giữa mù mịt xa

Tôi về đất tổ quê cha
rưng rưng nước mắt khóc òa trẻ thơ
băm hai năm nước đôi bờ
tôi về rũ bóng ngọn cờ phương Nam
đoạn trường mấy cuộc hợp tan
băm hai năm vẫn tiếng đàn não nhân
“thương người như thể thương thân”
trách chi Ưng Khuyển những bần cố nông
Cũng là tại vạ Vương ông
băm hai năm đã núi sông lở bồi

Tôi về tìm lại quê tôi
rưng rưng nước mắt khóc người nghìn thu
quê người tôi nhớ Nguyễn Du
quê tôi tôi đứng giữa mù mịt xa.

Hà Tĩnh, 1988

*

NƯỚC NON THƯỞ ẤY

Đứng ở trời Tây mà ngó lại
Quê hương mình đó nghĩ mà thương
Mà yêu mà nhớ mà ray rứt
Như thể tình ai nhuốm chuyện buồn

Như thể đã quên rồi chuyện cũ
Như vừa khơi lại những thương đau
Bốn mươi năm nhoài chân dâu biển
Tâm sự còn ai cạn chén sầu

Bạn bè mấy đa đã sang đây
Kẻ ở chân trời kẻ cuối mây
Có đứa đã nằm trong huyệt lạnh
Ven rừng Thanh Hóa núi Gia Rây

Còn bao nhiêu nữa gửi thân tàn
Rải rác núi rừng Trung Bắc Nam
Bên đống xương khô mồ “liệt sĩ”
Chết đành hơn nhỉ sống lầm than!

Bỏ làng bỏ nước bỏ người đi
Buổi ấy Trường Sơn đứng hẹn về
Từ cuộc phân tranh từ cải cách
Mà buông tay súng thẹn câu thề

Ngày trở về thăm quê Nghệ Tĩnh
Đất cằn sỏi đá ruộng đồng khan
Con trâu đứng đợi hờ rơm cỏ
Em bé ngồi trông miếng khẩu phần

Linh khí Hàm Nghi còn phảng phất
Sơn Phòng thành lũy mảnh hồn trôi
Trầm Lâm thánh miếu đền đài cổ
Tất cả còn đâu, phá sạch rồi

Và buổi đi tàu ra phía Bắc
Tìm về văn hiến bốn nghìn năm
Thương ôi, Hà Nội tiêu điều quá
Năm cửa ô buồn ngõ tối tăm

Lang thang mấy phố chiều mưa bụi
Thấp thoáng từ xa bóng Ba Đình
Cũng muốn đi qua xem một chút
Ngại ngùng như sợ tượng Lê Nin

Đứng lại ngó qua nhà “Hữu Nghị”
Uống ly trà vối phố Tràng Tiền
Chiều chiều đến quán cô hàng sách
Mấy lần qua lại phố Khâm Thiên

Cô em xinh lắm, am tường lắm
Cô kể tôi nghe chuyện phố phường
Cô nói miền Nam hơn phía Bắc
Tôi ngồi đọc hết quyển Sông Hương

Cần việc tìm vào Tòa Sứ Uùc
Hỏi dò đến gặp chú công an
Năm nghìn xếp gọn kèm bao thuốc
Nửa thoáng mội cười lọt cửa quan

Goi chiếu bánh kem ngồi ghế đá
Những chiều ngơ ngẩn ngắm Hồ Gươm
Ngẩn ngơ hồn lạc Thời Lê Lý
Chiếc bánh trên tay nhỏ giọt buồn

Nôn nao từng bước đường xa lạ
Mà đã thiết thân mỗi phố phường
Văng vẳng Thăng Long giòn vó ngựa
Bước tìm “Hoài Cổ” nét “tang thương”

HÀ NỘI 7-1990

*

PHẢI NÓI LẠI
NHỮNG ĐIỀU ĐÃ NÓI

Xin gửi đến các anh bài thơ buồn
Dẫu phải nói lại những điều đã nói
Khi lịch sử còn phân công luận tội
Tên các anh đã rạng rỡ với đời

Xin gửi các anh những thế hệ con người
Đem máu xương bón xanh rừng Tổ Quốc
Trên mộ bia ai kẻ thua người được
Có nhận ra nhau chung một cội nguồn

Có tìm lối về đất tổ Hùng Vương
Pho sử sách lật từng trang đọc lại
Con đường cái quan Cà Mau - Nam Ải
Xuyên một đường mạch máu bốn nghìn năm

Dấu đạn bom mỗi chỗ các anh nằm
Là vĩnh viễn vết nhơ quân phản bội
Bọn đón gió trở cờ và cơ hội
Chút lợi danh quên phẩm giá con người

Xin gửi các anh một chút lòng vui
chút êm ả sau một thời bom đạn
Khi đất nước chưa qua thời đại nạn
Thù hận đọa đày còn nỗi đau chung
           
Xin gửi các anh thông điệp tin mừng
Nửa nhân loại đã bừng cơn tỉnh ngộ
Thành trì đỏ đã một chiều sụp đổ
Cách mạng nổ chuyền từ Mạc Tư Khoa

Xin gửi các anh tiếng nói thật thà
Tiếng nói lương tri nghĩa tình phẩm giá
Bọn bất lương vẫn bịp lừa dối trá
Vẫn ngang tàng trên máu lệ người dân

Tổ Quốc ta ơi vinh dự nghìn lần
Hịch Hưng Đạo - bản Bình Ngô Đại Cáo
Cha ông ta bao đời ngăn gió bão
Quên thân mình cho trăm họ an vui

Xin gửi các anh tiếng nói ngậm ngùi
Khi bạo lực còn trên ngôi thống trị
Khi nhân loại bước vào tân thế kỷ
Đất nước mình lùi lại mấy trăm năm?

Máu các anh mỗi chỗ các anh nằm
Thấm vào đất ươm mầm xanh hy vọng
Cả dân tộc sẽ bừng lên sức sống
Xóa hết nhục nhằn xây dựng một ngày mai./

*
(Recorded on Feb 28, 2012)







Nói Chuyện Với Thơ

MÙA HÈ CỦA TÔI Nắng ở trên trời, hè - nắng xuống Đã quen rồi từ bao lâu nay Dẫu thiên hạ lắm người than nắng nóng Với tôi thì nắng… ...